Bản án về ly hôn số 106/2022/HNGĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 106/2022/HNGĐ-PT NGÀY 16/03/2022 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2022/TLPT- HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 381/2021/HNGĐ-ST ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 502/2022/QĐPT- HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thục H, sinh năm 1960 (có mặt) Thường trú: 37D Cao Văn L, Phường A, Quận B, TP. Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 137/29/11 Trần Đình X, phường Nguyễn Cư T, Quận A, TP. Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Trần Quốc M, sinh năm 1961 (có mặt) Thường trú: 37D Cao Văn L, Phường A, Quận B, TP. Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bà Lương Thục H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn - Bà Lương Thục H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và Ông Trần Quốc M tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy công nhận kết hôn số 634, quyển số 01/82, cấp ngày 10/9/1982.

Sau khi kết hôn, vợ chồng bà đã không hạnh phúc do bà H không hòa hợp với gia đình bên chồng. Ông M không quan tâm, thông cảm với bà mà còn thường xuyên nhậu nhẹt. Tuy nhiên, do muốn duy trì quan hệ hôn nhân nên bà H cố gắng chịu đựng để tiếp tục chung sống. Sau khi bà sinh con, ông M vẫn không thay đổi tính tình, không quan tâm, chăm sóc con cái. Kinh tế gia đình phụ thuộc vào công việc kinh doanh của bà. Ông M không phụ giúp, chia sẻ với bà trong công việc mà thường đi chơi, nhậu nhẹt đến tối mới về. Ngoài ra, ông M thường xuyên nói rằng ông gây nợ nần nên bà phải đưa tiền để ông M trả nợ. Bà có khuyên nhủ ông M thay đổi nhưng ông M không nghe, lại còn lớn tiếng với bà dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Vợ chồng bà đã tự ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và Ông Trần Quốc M được ly hôn.

- Về con chung: Bà và ông M có 01 con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 11/11/1995, đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn - Ông Trần Quốc M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của Bà Lương Thục H về thời điểm kết hôn, tình trạng hôn nhân và về con chung giữa ông và bà H.

Sau khi kết hôn đến năm 2016, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Nhưng từ năm 2016, bà H nghỉ công việc kinh doanh nên hàng ngày bà H đến nhà các chị em gái của bà H chơi. Ông cũng muốn bà H được khuây khỏa, thư giãn nên không thắc mắc gì. Tuy nhiên kể từ đó, ông nhận thấy tình cảm bà H dành cho ông ngày càng lạnh nhạt. Ông có hỏi lý do nhưng vì tính cách sống nội tâm nên bà H không chia sẻ gì. Ông M nghi ngờ do bà H tiếp xúc thường xuyên với các chị em gái, nghe lời xúi giục của họ nên bà H mới xin ly hôn ông.

Ông thừa nhận trong quá trình chung sống, ông có vô tâm, không chăm sóc được nhiều cho vợ con; thỉnh thoảng ông có đi ra ngoài giao tiếp với khách hàng hoặc họ hàng của bà H nên có đi ăn uống, nhậu nhẹt nhưng không đi thường xuyên và không bê tha như lời trình bày của bà H. Ông cũng không có lỗi lầm gì với bà H. Ông xác nhận vợ chồng ông đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay.

Ông không đồng ý với lời trình bày của bà H về việc ông không phụ giúp gì với bà H trong công việc kinh doanh. Kinh tế gia đình từ trước đến nay đều do vợ chồng cùng tạo ra. Nay ông xác định ông vẫn còn tình cảm với bà H và mong muốn gia đình được trọn vẹn nên ông không đồng ý ly hôn với bà H.

- Về con chung: Ông và bà H có 01 con chung tên Trần Gia H1, sinh ngày 11/11/1995, đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 381/2021/HNGĐ-ST ngày 15/12/2021 Tòa án nhân dân quận 6, đã quyết định:

“ … 1. Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Lương Thục H đối với Ông Trần Quốc M.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Do không chấp nhận yêu cầu của Bà Lương Thục H, nên HĐXX không xem xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lương Thục H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0038719 ngày 18/5/2021 của Chi cục Thi hành án Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Ghi nhận Bà Lương Thục H đã nộp đủ tiền án phí...” Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo.

Ngày 27/12/2021, bà H kháng cáo yêu cầu được ly hôn với ông M.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Bà Lương Thục H trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, yêu cầu được ly hôn với ông M

* Ông Trần Quốc M trình bày: Tôi muốn giữ không khí và hình ảnh gia đình cho con và vẫn còn tình cảm với bà H, nên không đồng ý ly hôn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Bà H kháng cáo đúng thời hạn luật định.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn giữa vợ chông bà H và ông M là có nhưng chưa đến mức trầm trọng, tình cảm của ông M vẫn còn và tha thiết xin đoàn tụ. Xét thấy cả hai đã kết hôn gần 40 năm, mâu thuẫn chưa trầm trọng, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Hà là có căn cứ.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Do không chấp nhận yêu cầu của bà H, nên không xem xét.

Từ những nhận định trên, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của Bà Lương Thục H làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy công nhận kết hôn số 634, quyển số 01/82, do Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/9/1982, thì quan hệ hôn nhân giữa Bà Lương Thục H và Ông Trần Quốc M là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ lời khai của bà H thì trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn nữa, hai bên đã sống ly thân từ năm 2012. Tại phiên tòa bà H vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Ông M thừa nhận vợ chồng đã ly thân từ năm 2016, vợ chồng tuy có mâu thuẫn nhưng không lớn, ông vẫn còn yêu thương bà H nên không đồng ý ly hôn, nhưng ông M không đưa ra được biện pháp nào để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Căn cứ vào lời khai của anh Trần Gia H1 (là con của ông M và bà H) thì vợ chồng bà H, ông M đã sống ly thân từ lâu, trong thời gian chung sống ông M thường xuyên đi nhậu đến khuya, không quan tâm đến gia đình con cái, cả hai thường xuyên xảy ra cãi nhau.

Xét thấy, vợ chồng bà H và ông M đã sống ly thân từ lâu, không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xin ly hôn với ông M.

[3] Về việc nuôi con: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 269, quyển số II/95 do Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1 cấp ngày 30/11/1995, thì anh Trần Gia H1, sinh ngày 11/11/1995 là con của ông M và bà H. Do anh Huy đã thành niên, bà H và ông M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

1. Sửa Bản án sơ thẩm số 381/2021/HNGĐ-ST ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lương Thục H:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thục H được ly hôn với Ông Trần Quốc M.

- Về việc nuôi con: Có 01 người con tên Trần Gia H1, sinh ngày 11/11/1995, đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lương Thục H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0038719 ngày 18/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lương Thục H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lương Thục H không phải chịu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

287
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 106/2022/HNGĐ-PT

Số hiệu:106/2022/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 16/03/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về