Bản án về ly hôn số 08/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 08/2024/HNGĐ-ST NGÀY 30/01/2024 VỀ LY HÔN

Trong ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:

251/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10/01/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh N K D - Sinh năm 1988 Nơi cư trú: Tổ 4, ấp X C, xã T B, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Bị đơn: Chị N T H M T – Sinh năm 1991 Nơi cư trú: Tổ 4, ấp X C, xã T B, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước (Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2023, bản tự khai ngày 25/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh N K D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh N K D và chị N T H M T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tin tưởng nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh N K D yêu cầu được ly hôn với chị N T H M T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên N M Đ, sinh ngày 02/02/2015, N T P, sinh ngày 13/12/2018. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Khi ly hôn anh D yêu cầu nuôi 02 con chung, yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi 02 con chung 2.000.000đ/tháng/02 con chung ( Mỗi con 1.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dường từ tháng 10 năm 2023 cho đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, vì lý do công việc anh D yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai đề ngày 25/9/2023, quá trình giải quyết bị đơn chị N T H M T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời khai của anh N K D về thời gian đăng ký kết hôn, nơi kết hôn và thời gian chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do về không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau. Nay anh N K D làm đơn ly hôn thì chị N T H M T đồng ý ly hôn.

Về con chung: Thống nhất với lời khai của anh N K D về con chung. Khi ly hôn chị T đồng ý cho anh D nuôi 02 con chung tên N M T Đ, sinh ngày 02/02/2015, N T P, sinh ngày 13/12/2018, chị T đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng/02 con chung ( Mỗi con 1.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dường từ tháng 10 năm 2023 cho đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, vì lý do công việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản không có ý kiến gì thêm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định được vợ chồng anh N K D, chị N T H M T có mâu thuẫn, không thể hòa giải đoàn tụ và chị T cũng đồng ý ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N K D đối với chị N T H M T. Về con chung giao 02 con chung tên N M T Đ, sinh ngày 02/02/2015, N T P, sinh ngày 13/12/2018 cho anh D nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi nuôi 02 con chung 2.000.000đ/tháng/02 con chung (Mỗi con 1.000.000đ/tháng); về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với chị N T H M T có nơi cư trú tại xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D, chị T là đúng quy định của pháp luật.

[2] Nội dung vụ án:

- Quan hệ hôn nhân giữa anh N K D, chị N T H M T là hôn nhân hợp pháp, các đương sự có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Anh D cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không được và và đã sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn nên anh D yêu cầu ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đã hòa giải đoàn tụ cũng như cho thời gian mục đích vợ chồng đoàn tụ nhưng anh D không đồng ý. Anh D cũng thừa nhận: Về quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Như vậy có cơ sở xác định lời trình bày của anh D là đúng, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Ngoài ra chị T cũng đồng ý ly hôn vì không tìm được tiếng nói chung để hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của anh N K D chấm dứt quan hệ hôn nhân với chị N T H M T.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Minh Tiến Đạt, sinh ngày 02/02/2015, Nguyễn Tấn Phát, sinh ngày 13/12/2018 hiện tại đang ở cùng với anh D. Khi ly hôn anh D có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung đang sống chung với anh D và chị T cũng đồng ý cho anh D nuôi 02 con chung tên N M T Đ, sinh ngày 02/02/2015, N T P, sinh ngày 13/12/2018, ngoài ra nguyện vọng của cháu Đạt là sống với anh D. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung 02 con chung tên N M T Đ, sinh ngày 02/02/2015, N T P, sinh ngày 13/12/2018 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng con chung và quan điểm của chị T.

- Về cấp dưỡng: Anh D yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi 02 con chung hàng tháng 2.000.000đ ( Mỗi con 1.000.000đ/tháng) và chị T cũng đồng ý nên cần buộc chị T cấp dưỡng nuôi 02 con chung hàng tháng 2.000.000đ/tháng. Các đương sự đều thống nhất thời gian cấp dưỡng từ tháng 10 năm 2023 đến khi con chung trưởng thành.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên cũng không xem xét giải quyết trong vụ án.

[3] Về án phí: Anh N K D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị T chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng theo quy định.

[4] Tại phiên Tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, các đương sự, Hội đồng xét xử và nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh N K D được ly hôn với chị N T H M T.

(Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83 ngày 11/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

2. Về con chung: Giao con chung tên N M T Đ, sinh ngày 02/02/2015, N T P, sinh ngày 13/12/2018 cho anh N K D trực tiếp nuôi dưỡng.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N T H M T cấp dưỡng nuôi 02 con chung 2.000.000đ/tháng (Mỗi con 1.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dường từ tháng 10 năm 2023 cho đến khi con chung trưởng thành.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án.

5. Về án phí: Anh N K D chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp. theo biên lai thu số 0015009 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Chị N T H M T chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

122
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 08/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:08/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hớn Quản - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về