Bản án về ly hôn số 06/2025/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 06/2025/HNGĐ-ST NGÀY 20/01/2025 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố T Nguyên, tỉnh T Nguyên T hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 682/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐST- HNGĐ, ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1976 (Có mặt) HKTT:Tổ 04, phường TĐ, TP. T Nguyên, tỉnh T Nguyên. Nơi ở: Xóm SC, xã SC, thành phố T Nguyên, tỉnh T Nguyên.

Bị đơn: Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1969 (Vắng mặt) HKTT: Tổ 04, phường TĐ, TP. T Nguyên, tỉnh T Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại biên bản hòa giải nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày: Bà kết hôn với ông Phạm Hồng T năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND phường TĐ, thành phố T Nguyên, tỉnh T Nguyên. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đôi bên không còn thông cảm, không có Tg nói chung nên mâu thuẫn càng trầm trọng và sống ly thân nhau từ năm 2024 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông T, yêu cầu ông T đến Tòa án để giải quyết tranh chấp ly hôn giữa bà T và ông T. Ông T đã được thông báo, được đọc các văn bản tố tụng trên, nhưng ông T từ chối nhận các văn bản tố tụng và vắng mặt tại phiên họp và phiên hòa giải không có lý do. Do vắng mặt tại phiên họp và phiên hòa giải nên ông T không cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ gì và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy Tòa án lập biên bản không hòa giải được để làm căn cứ giải quyết vụ án. Do các đương sự đã không cùng nhau hòa giải và thỏa thuận được với các nội dung để giải quyết vụ án. Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ cho nguyên đơn và bị đơn tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã T hành tống đạt quyết định hoãn phiên tòa xét xử và ấn định thời gian mở lại phiên tòa cho bà T và ông T.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện được ly hôn với ông T. Về con chung: Không có, Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa bị đơn ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, nên không có ý kiến của ông T. Tòa án T hành xét xử vắng mặt đối với ông T theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử T hành tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt và đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai, nên căn cứ, khoản 2 Điều 227, xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Trần Thị T được ly hôn với ông Phạm Hồng T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T Nguyên.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa cho bà T và ông T theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông T quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên ông T vẫn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với ông T.

[2]. Về nội dung: Bà Trần Thị T và Phạm Hồng T kết hôn năm 2021 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TĐ, thành phố T Nguyên, tỉnh T Nguyên. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn theo bà T trình bày, vợ chồng chỉ hạnh phúc được 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ lẫn nhau, vợ chồng đã không còn cảm thông chia sẻ được với nhau trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2024 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay bà T vẫn giữ nguyên quan điểm, dứt khoát yêu cầu được ly hôn với ông T, xác định không còn tình cảm. Hội đồng xét xử thấy: Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, nay bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn với ông T, ông T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại Tòa án và tại phiên tòa xét xử nên không lấy được ý kiến của ông T. Nhận thấy do mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng, có duy trì quan hệ hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn với ông T là phù hợp với thực tế và Điều 51 luật Hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Không có

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, ông T vắng mặt nên không có ý kiến đề nghị gì. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Khi các đương sự có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung thì khởi kiện bằng vụ án khác kèm theo các tài liệu chứng cứ để chứng minh.

[5]. Về án phí: Bà T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T về việc khởi kiện Ly hôn.

1. Quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị T được ly hôn với ông Phạm Hồng T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước, được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003433 ngày 08/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T Nguyên.

5. Về quyền kháng cáo: Bà T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

55
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn số 06/2025/HNGĐ-ST

Số hiệu:06/2025/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về