TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 01/2025/HNGĐ-ST NGÀY 02/01/2025 VỀ LY HÔN
Ngày 02 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 559/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị D, sinh năm 1991 (Có mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện CN, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1990 (Vắng mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, huyện CN, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 – 10– 2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn L được sự thống nhất của hai bên gia đình nên tổ chức đám cưới vào năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh L thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cự cãi nhau. Gia đình hai bên đã tổ chức hàn gắn nhưng không có kết quả, chị và anh L đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay xét thấy đời sống giữa chị và anh L không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị và anh Huỳnh Văn L có 01 người con chung tên Huỳnh Văn Tr, sinh ngày 15/8/2010, hiện con đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với anh Huỳnh Văn L, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập anh L để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng anh L vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Đặng Thị D và anh Huỳnh Văn L là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Huỳnh Văn L có địa chỉ tại Ấp A, xã B, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Huỳnh Văn L đã được Toà án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với anh L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về hôn nhân: Chị Đặng Thị D và anh Huỳnh Văn L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Đặng Thị D và anh Huỳnh Văn L là vợ chồng.
[3] Về con chung: Chị Đặng Thị D và anh Huỳnh Văn L có 01 người con chung tên Huỳnh Văn Trọng, sinh ngày 15/8/2010, hiện con đang sống chung với chị D, sau khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con. Đối với cháu Huỳnh Văn Trọng tính đến ngày xét xử sơ thẩm đã trên 07 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hội đồng xét xử nhận thấy, tại biên bản ghi nhận ý cháu Trọng vào ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thì cháu Tr có nguyện vọng được sống với mẹ là chị D. Đối với anh Huỳnh Văn L đã được Tòa án thông báo về yêu câu nuôi con của chị D nhưng anh L không có ý kiến phản đối. Từ khi chị D và anh L ly thân vào đầu năm 2024 cho đến nay thì cháu Trọng vẫn do chị D nuôi dưỡng, chị D có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu nuôi con của chị D là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận, giao con Huỳnh Văn Trọng cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị D xác định trong quá trình chung sống giữa chị D và anh L không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với anh L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, anh L không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị D phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Không công nhận chị Đặng Thị D và anh Huỳnh Văn L là vợ chồng.
[2] Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Văn Tr, sinh ngày 15/8/2010 cho chị Đặng Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, anh Huỳnh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Huỳnh Văn L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013702 ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước chị D đã nộp đủ. Anh Huỳnh Văn L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai chị Huỳnh Thị Diễm có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Văn L có quyền kháng cáo bản bán trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Bản án về ly hôn số 01/2025/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 01/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 02/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về