Bản án về ly hôn, nuôi con số 52/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 52/2022/HNGĐ-ST NGÀY 09/03/2022 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 09 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 407/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/02/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị N1, sinh năm: 1999 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh C ..

Bị đơn: Anh Lê Minh N2, sinh năm: 1996 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh C ..

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Du Thị B là Luật sư Văn phòng Luật sư Mũi Cà Mau thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 26/9/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trương Thị N1 trình bày: Chị và anh Lê Minh N2 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau vào ngày 03/11/2017. Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, cuộc sống không hạnh phúc, anh N2 không làm ra tiền, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2021 đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh N2.

1 Về con chung: Có 01 con chung là Lê Minh Phát, sinh ngày 18/6/2019. Hiện nay cháu Phát đang sống cùng cha là anh N2. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh N2 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày ngày 17/11/2021 và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Minh N2 trình bày: Về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như chị N1 trình bày. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh không còn tình cảm với chị N1, vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2021 đến nay. Nay chị N1 xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung là Lê Minh Phát, sinh ngày 18/6/2019. Hiện nay cháu Phát đang sống cùng anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh N2 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh N2 và chị N1 được ly hôn, giao con chung là cháu Lê Minh Phát cho anh N2 nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị N1 yêu cầu được ly hôn nên xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N1 và anh N2 xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị N1 và anh N2 đều cho rằng trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị N1 yêu cầu ly hôn, anh N2 đồng ý. Xét thấy, thực tế hôn nhân giữa chị N1 và anh N2 đã có mâu thuẫn và đã ly thân nhau, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc, chia sẽ với nhau các vấn đề trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị N1 và anh N2 thuận tình ly hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận cho ly hôn.

[3] Về con chung: Chị N1, anh N2 xác định có một 01 con chung là Lê Minh Phát, sinh ngày 18/6/2019 (nam). Hiện nay cháu Phát đang sống cùng anh N2. Khi ly hôn, chị N1 yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh N2 cấp dưỡng nuôi con, anh N2 yêu cầu nuôi con và không yêu cầu chị N1 cấp dưỡng nuôi con. Xét cả cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chưa thành niên. Tuy nhiên, khi xem xét giao con cho người trực tiếp nuôi Hội đồng xét xử xem xét đến quyền lợi mọi mặt, điều kiện, môi trường nuôi con, để ai nuôi thì cháu phát triển tốt nhất. Trước khi chị N1 và anh N2 ly thân thì cháu Lê Minh Phát đã sống ổn định ở nhà anh N2, khi phát sinh mâu thuẫn chị N1 đưa cháu Phát về nhà cha mẹ ruột ở sau đó thì anh N2 đưa cháu Phát về nuôi cho đến nay. Về mức thu nhập, tại phiên tòa chị N1 trình bày đi làm có thu nhập mỗi tháng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng từ việc buôn bán rau, cá ở chợ, còn anh N2 cho rằng có thu nhập mỗi tháng 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng từ việc nuôi tôm. Ngoài ra, anh N2 còn được cha mẹ cho các phần đất có tổng diện tích khoảng 17.000m2 đủ khả năng để nuôi cháu Phát. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con...”. Thấy rằng, thu nhập giữa chị N1 và anh N2 có sự chênh lệch với nhau, chị N1 đi buôn bán khi đó phải gửi cháu cho người khác nuôi, việc trực tiếp trông nom cháu cũng không đảm bảo liên tục, anh N2 ở nhà làm kinh tế cùng với cha mẹ ruột, có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con hơn so với chị N1. Hiện cháu Lê Minh Phát là nam đã gần 03 tuổi, cháu hiện đang sống ổn định cùng với anh N2 và đang được anh N2 chăm sóc trực tiếp, có ông bà nội sống chung với anh N2 nên để tránh xáo trộn cuộc sống của cháu, việc giao cháu Phát cho anh N2 tiếp tục nuôi là phù hợp. Anh N2 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh N2 về việc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị N1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N1, anh N2 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị N1 về việc xin ly hôn với anh Lê Minh N2. Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2017 do Ủy ban nhân dân xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời cấp ngày 03/11/2017 không còn hiệu lực.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Minh Phát, sinh ngày 18/6/2019 (nam) cho anh N2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Chị N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N1, anh N2 xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị N1 phải chịu 300.000 đồng. Ngày 29/10/2021 chị N1 đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0004092 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, chị N1 đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Chị N1, anh N2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

239
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, nuôi con số 52/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:52/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 09/03/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về