TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
BẢN ÁN 129/2024/HNGĐ-ST NGÀY 11/09/2024 VỀ LY HÔN, NUÔI CON
Trong ngày 11 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29/05/2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/07/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 109/2024/QĐ-HNGĐ, ngày 19/08/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1993 (xin vắng) Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/05/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Ngọc T trình bày:
Vào năm 2018, qua quen biết nên anh và chị Nguyễn Thị Ngọc G tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng chỉ kéo dài đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến trong đời sống gia đình, tính tình không hợp nhau, mạnh ai nấy sống, thường xuyên xảy ra cự cãi, chị G thường xuyên vắng nhà không rõ lý do, hiện tại không còn sống chung với anh, đi đâu làm gì thì anh không biết. Hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Từ lúc ly thân hai bên không liên lạc gì với nhau, không hàn gắn đoàn tụ được, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc G.
Về con chung: Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi cháu Trần Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 01/06/2019 và không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc G vắng mặt nên không trình bày.
- Trong đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/07/2024, nguyên đơn anh Trần Ngọc T trình bày: Anh yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc G. Về con chung: Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi cháu Trần Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 01/06/2019 và không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn anh Trần Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”; bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc G cư trú tại xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về pháp luật nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị G có quen biết tìm hiểu nhau từ năm 2018 rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 20/12/2018 nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Theo anh Trần Ngọc T trình bày: Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng chỉ kéo dài đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến trong đời sống gia đình, tính tình không hợp nhau, mạnh ai nấy sống, thường xuyên xảy ra cự cãi, chị G thường xuyên vắng nhà không rõ lý do, hiện tại không còn sống chung với anh, đi đâu làm gì thì anh không biết, hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Từ lúc ly thân hai bên không liên lạc gì với nhau, không hàn gắn đoàn tụ được, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc G.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, tuy nhiên hiện tại vợ chồng anh T, chị G đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Qua đó cho thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T được ly hôn với chị G là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[2]. Về con chung: Anh Trần Ngọc T khai có con chung với chị Nguyễn Thị Ngọc G là cháu Trần Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 01/06/2019 và yêu cầu được nuôi con.
Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.
Hiện tại cháu Sang đang sống chung với anh T. Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của cháu, tránh thay đổi môi trường sống và học tập của cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T là giao cháu Trần Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 01/06/2019 cho anh Trần Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Ngọc G được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Ngọc T khai chưa yêu cầu, chị Nguyễn Thị Ngọc G cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Ngọc T khai chưa yêu cầu, chị Nguyễn Thị Ngọc G cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Ngọc T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc G.
[2]. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 01/06/2019 cho anh Trần Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Nguyễn Thị Ngọc G được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Anh Trần Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0014184 ngày 29/05/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Anh Trần Ngọc T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về ly hôn, nuôi con số 129/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 129/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tam Bình - Vĩnh Long |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 11/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về