TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
BẢN ÁN 126/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/08/2024 VỀ LY HÔN, NUÔI CON
Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 264/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXX-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Cẩm X, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp NH, xã Gia Hòa 2, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc Trăng.
Bị đơn: Anh Lê Minh L, sinh năm 1998.
Địa chỉ: ấp PT, xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06/5/2024, trong quá trình tố tụng, chị Trần Thị Cẩm X trình bày:
Về hôn nhân: Chị và chị L chung sống vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 27/12/2022 theo quy định của pháp luật.
Trong thời gian chung sống chị và anh L thường X mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác 1 nhau. Nay xét thấy không còn tình cảm, chung sống không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn.
Về con: Chị và anh L có 01 con chung là Lê Minh T, sinh ngày 25/9/2022, hiện đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Không có, không yêu cầu giải quyết;
Anh Lê Minh L vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu phát biểu:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn chưa chấp hành giấy triệu tập của Tòa án.
Ý kiến về giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Năm 2022, chị X và anh L chung sống với nhau, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa chị X và anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của anh, chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị X được ly hôn với anh L là phù hợp.
Về con: Người con Lê Minh T, sinh ngày 25/9/2022 đang sống cùng chị X, để ổn định cuộc sống của trẻ cần tiếp tục giao con cho chị X nuôi là phù hợp. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.
Chị X không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Về tài sản: Chị X xác định không có nên không xem xét.
Về án phí đương sự nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị Cẩm X yêu cầu ly hôn với anh Lê Minh L, anh L có địa chỉ cư trú tại ấp PT, xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Chị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị X và anh L.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Năm 2022, chị X và anh L tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống giữa chị X và anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay chị X xác định mâu thuẫn giữa chị và anh L đã trầm trọng, không còn khả năng hòa giải mâu thuẫn nên yêu cầu ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa chị X và anh L không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh L đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh L vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị X được ly hôn với anh L là phù hợp.
[2.2]. Về con: Người con Lê Minh T, sinh ngày 25/9/2022 đang sống cùng chị X, để ổn định cuộc sống của con chưa thành niên, cần tiếp tục giao con cho chị X nuôi là phù hợp. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
Chị X không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản: Chị X xác định không có nên không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị X nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Cẩm X được ly hôn với anh Lê Minh L.
2. Về con chung: Giao người con Lê Minh Tâm, sinh ngày 25/9/2022 cho chị Trần Thị Cẩm X tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Lê Minh L có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
Chị Trần Thị Cẩm X không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
3. Về tài sản: Chị Trần Thị Cẩm X xác định không có nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Cẩm X nộp 300.000 đồng, chị Trần Thị Cẩm X đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010272 vào ngày 17/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.
Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn, nuôi con số 126/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 126/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hồng Dân - Bạc Liêu |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 13/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về