TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HH, TỈNH NAM ĐỊNH
BẢN ÁN 03/2024/HNGĐ-ST NGÀY 03/01/2024 VỀ LY HÔN, NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H.H, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2023/QĐST – HNGĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm 3, xã H.P, huyện H.H, tỉnh Nam Định; “có đơn xin vắng mặt”;
- Bị đơn: Anh Phạm Vũ H, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm Văn Khoa, xã H.P, huyện H.H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 7 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị T và anh Phạm Vũ H kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H.P, huyện H.H, tỉnh Nam Định ngày 02/01/2007 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà của bố mẹ anh H được hai năm sau đó chuyển đến sinh sống tại xóm Văn Khoa, xã H.P đến đầu năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ngoài ra, do anh H không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị T đã nhiều lần khuyên bảo anh H nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2020, hai người đã chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau từ đó đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án cho được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Phạm Thị Yến N sinh ngày 19/10/2021 đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện H.H đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 252/2023/TLST – HNGĐ, ngày 19/10/2023 và các văn bản tố tụng khác cho anh Phạm Vũ H biết để anh H có ý kiến bằng văn bản về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị T gửi Tòa án và đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, anh H không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị T gửi cho Tòa án cũng như không đến Tòa làm việc mà không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lâm Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Phạm Vũ H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Lâm Thị T và anh Phạm Vũ H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H.P, huyện H.H ngày 02/01/2007 trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng ý kiến, không tìm được tiếng nói chung, anh H không tu chí làm ăn và chăm lo cho gia đình. Nay chị T xin ly hôn, anh H được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về việc chị T xin ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị T, Hội đồng xét xử nhận định: thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh H không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ lâu nhưng hai người không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm; mặt khác anh H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đến nay không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Lâm Thị T được ly hôn anh Phạm Vũ H là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Lâm Thị T và anh Phạm Vũ H có một con chung là Phạm Thị Yến N, sinh ngày 19/10/2021 hiện đang ở cùng chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H không có ý kiến gì về việc nuôi con. Xét thấy hiện nay con chung còn nhỏ và đang ở cùng chị T, anh H không có ý kiến về việc nuôi con chung sau ly hôn; để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung phát triển và tránh xáo trộn cuộc sống tâm lý của con chung, căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình, cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế hiện nay và phù hợp với quy định của pháp luật. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy đinh của pháp luật.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lâm Thị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lâm Thị T và anh Phạm Vũ H.
2. Về việc nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Yến N, sinh ngày 19/10/2021 cho chị Lâm Thị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Phạm Vũ H không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T và anh H có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Hiện cháu Nhi đang ở cùng chị T.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Lâm Thị T phải nộp án phí ly hôn 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002829 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.H. Chị T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lâm Thị T và bị đơn anh Phạm Vũ H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn, nuôi con khi ly hôn số 03/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 03/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hải Hậu - Nam Định |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 03/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về