Bản án về ly hôn, nuôi con chung số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 23/2025/HNGĐ-ST NGÀY 07/02/2025 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 07/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/12/2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09/01/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị D; Sinh năm: 1993; Địa chỉ: Bản B, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn M; Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Bản B, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/12/2024, bản tự khai, nguyên đơn chị Quàng Thị D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lò Văn M kết hôn với nhau từ ngày 13/8/2012 tại UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối. Sau khi kết hôn chị và anh M chung sống hoà thuận hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính phát sinh mâu thuẫn là do khác biệt quan điểm sống, xảy ra cãi vã, anh M thường xuyên hay uống rượu đánh đập chị, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không tìm được tiếng nói chung, đã ly thân từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Chị D nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc nên đã viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu giải quyết cho chị được ly hôn anh Lò Văn M.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 03 con chung: Cháu Lò Thị D, sinh ngày 04/10/2012, cháu Lò Thị Kim T, sinh ngày 08/3/2015, cháu Lò Thị Diệp C, sinh ngày 19/11/2019. Chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lò Thị Kim T và Lò Thị Diệp C. Chị đề nghị giao cháu Lò Thị D cho anh Lò Văn M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản riêng: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn anh Lò Văn M trình bày:

Về hôn nhân: Quá trình kết hôn giữa anh và chị D như lời khai của chị D là đúng. Quá trình chung sống không phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị D trình bày là không đúng, anh xác định tình cảm vẫn còn không nhất trí ly hôn mong muốn chị D tha thứ cho anh cơ hội sửa chữa, mong chị D quay trở lại đoàn tụ vì còn yêu thương vợ con, được cùng chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc nuôi dạy các con.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 03 con chung đúng như chị D khai. Tại phiên tòa anh M đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 03 cháu. Không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản riêng: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chị D, anh M không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng. Nguyên đơn chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến trước khi ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thụ lý đúng thẩm quyền tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự , xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ đúng quy định. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi kịp thời các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 198, Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Đề nghị:

- Về hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Lò Văn M.

- Về con chung: Xử giao các cháu Lò Thị Kim T, sinh ngày 08/3/2015, cháu Lò Thị Diệp C, sinh ngày 19/11/2019 cho chị Quàng Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xử giao cháu Lò Thị D, sinh ngày 04/10/2012 cho anh Lò Văn M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị D.

* Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu giải quyết việc ly hôn của nguyên đơn chị Quàng Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thuận Châu nên Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về hôn nhân: Chị Quàng Thị D và anh Lò Văn M có đăng ký kết hôn từ ngày 13/8/2012 tại UBND xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La kết hôn do cả hai bên cùng tự nguyện, không bên nào bị cưỡng ép, lừa dối đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh M là hợp pháp. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do khác biệt quan điểm sống, xảy ra cãi vã, anh M thường xuyên hay uống rượu đánh đập chị đã được gia đình hai bên nội, ngoại hòa giải nhưng không thành, trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân rơi vào bế tắc đã ly thân từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay chị và anh đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai.

Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh M và chị D giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh M, anh M không nhất trí ly hôn là không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị D ly hôn với anh M.

[3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có 03 con chung: Cháu Lò Thị D, sinh ngày 04/10/2012, cháu Lò Thị Kim T, sinh ngày 08/3/2015, cháu Lò Thị Diệp C, sinh ngày 19/11/2019. Chị D đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lò Thị Kim T và Lò Thị Diệp C. Chị đề nghị giao cháu Lò Thị D cho anh Lò Văn M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 03 cháu. Không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các con, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, xem xét chị D, anh M có đủ khả năng và điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu như ăn mặc, học hành, những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý. Giao cháu Lò Thị Kim T, Lò Thị Diệp C cho chị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Lò Thị D cho anh M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận, hợp tình, hợp lý. Sau khi ly hôn chị D, anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4].Về tài sản chung: Không có.

[5]. Về tài sản riêng: Không có.

[6]. Về nợ chung: Không có.

[7]. Về án phí: Chị Quàng Thị D là người dân tộc thiểu số sinh sống ở bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị D. Chị Quàng Thị D được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại C cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu.

[8]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Lò Văn M.

2. Về con chung: Xử giao các cháu Lò Thị Kim T, sinh ngày 08/3/2015, cháu Lò Thị Diệp C, sinh ngày 19/11/2019 cho chị Quàng Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Xử giao cháu Lò Thị D, sinh ngày 04/10/2012 cho anh Lò Văn M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Quàng Thị D, anh Lò Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Quàng Thị D.

Chị Quàng Thị D được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại C cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo biên lai số: 0001886 ngày 09/12/2024.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị D, anh Lò Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

50
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về ly hôn, nuôi con chung số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025

Số hiệu:23/2025/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/02/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về