TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 88/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ T VỚI ANH K
Ngày 09 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 07 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1988 Địa chỉ: Đội 08 N, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày: Tháng 03 năm 2009 chị kết hôn với anh Phạm Văn K theo phong tục tập quán địa phương. Trước khi kết hôn, chị và anh K có được tự nguyện tìm hiểu, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau đám cưới, chị về nhà anh K làm dâu, sinh sống cùng gia đình anh K ngay. Chị và anh K chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 11 năm 2009 thì nẩy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh K chơi bời cờ bạc, không chịu lao động, thỉnh thoảng đánh đập chị nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không khí gia đình căng thẳng. Mâu thuẫn vợ chồng chị gia đình hai bên có biết, động viên khuyên bảo nhưng không thành. Tháng 02 năm 2010, chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ chị ở. Từ đó, chị và anh K sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không thể đoàn tụ gia đình được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn K.
Về con chung: Chị và anh Phạm Văn K chưa có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn K nhưng anh K không đến trụ sở Tòa án làm việc, không cung cấp cho Tòa án lời khai, tài liệu, chứng cứ gì.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đỗ Thị T được ly hôn với anh Phạm Văn K. Về con chung; tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản, không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xử vụ án.
Chị Đỗ Thị T yêu cầu giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Phạm Văn K. Đây là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị T kết hôn với anh Phạm Văn K trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, thành phố Hà Nội, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ban đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó nẩy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Chị T và anh K sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế đã lâu, ai sống thế nào thì mặc, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh K đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận cho chị Đỗ Thị T ly hôn với anh Phạm Văn K.
[3]. Về con chung: Chị Đỗ Thị T và anh Phạm Văn K chưa có con chung nên không đặt ra xem xét.
[4]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí: Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị T ly hôn với anh Phạm Văn K.
2. Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008137 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang ngày 19 tháng 03 năm 2024.
3. Về kháng cáo: Báo cho các đương sự vắng mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về ly hôn giữa chị T với anh K số 88/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 88/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 09/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về