Bản án về kiện ly hôn, con chung số 55/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 55/2024/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ KIỆN LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 16 tháng 09 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 203/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 06 năm 2024 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 12/08/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST – HNGĐ ngày 27/08/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A; sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: số X, thôn TT, xã QT, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk

- Bị đơn: Anh Trần Quang H; sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: số X, thôn TT, xã QT, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk

Địa chỉ hiện nay: Tổ dân phố Z, TT QP, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim A trình bày:

Tôi và anh Trần Quang H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/08/2017 tại Ủy ban nhân dân TT Quảng P, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Qua thời gian chung sống được 7 năm chúng tôi không hạnh phúc, không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, từ đó không tìm được điểm chung để sống với nhau, tình cảm không hàn gắn được. Vợ chồng tôi đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Vì vậy, tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar giải quyết cho được ly hôn với anh Trần Quang H.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar đã triệu tập anh Trần Quang H để giao thông báo thụ lý vụ án, làm bản tự khai, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trần Quang H vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại chính quyền địa phương vào ngày 12/07/2024 được biết anh Trần Quang H có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa phương.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:

- Đối với Thẩm Phán: Đã thực đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.

- Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: Đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Đối với đương sự:

Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Quang H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trần Quang H không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:

Chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quang H nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Anh Trần Quang H có đăng ký nhân khẩu tại TT Quảng Phú, huyện Cư Mgar. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Trần Quang H được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Trần Quang H vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trần Quang H có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/08/2017 tại Ủy ban nhân dân TT Quảng Phú, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trần Quang H thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc và hiện nay đã sống ly thân. Nay chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quang H, xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và hiện nay đã sống ly thân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trần Quang H đã trầm trọng, việc chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quang H là chính đáng cần được chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trần Quang H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết [3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Quang H

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trần Quang H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình:

Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị Kim A đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0007671 ngày 10/06/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về kiện ly hôn, con chung số 55/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:55/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư M'gar - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về