Bản án về kiện đòi tài sản số 42/2024/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 42/2024/DS-ST NGÀY 06/08/2024 VỀ KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 06/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-DS, ngày 22/5/2024 về việc “Kiện đòi tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS, ngày 17/7/2024 giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1956 (có mặt). Trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1994 (vắng mặt). Trú tại: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông có quen biết với anh Nguyễn Văn T1, ông cho anh T1 vay tiền nhiều lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 15/9/2016 (âm lịch) tức ngày 15 tháng 10 năm 2016 (dương lịch), ông T có cho anh T1 vay số tiền 30.000.000 đồng. Việc vay tiền thể hiện trên Giấy vay tiền do ông T viết, có chữ ký của anh T1 ở mục người vay tiền, ông T trực tiếp đưa số tiền 30.000.000 đồng cho anh T1. Trong giấy vay tiền không thỏa thuận thời hạn, lãi suất nhưng hai bên thỏa thuận bằng miệng về thời hạn vay là 01 tháng và lãi suất là 3%/tháng.

Lần 2: Ngày 05/01/2018 (âm lịch) tức ngày 20/02/2018 (dương lịch), ông T có cho anh T1 vay số tiền 30.000.000 đồng. Việc vay tiền thể hiện trên Giấy vay tiền do ông T viết, có chữ ký của anh T1 ở mục người vay tiền, ông T trực tiếp đưa số tiền 30.000.000 đồng cho anh T1. Thời hạn vay tiền kể từ ngày 05/01/2018 (âm lịch) đến ngày 25/01/2018 (âm lịch), hai bên thỏa thuận bằng miệng lãi suất là 3%/tháng.

Lần 3: Ngày 11/5/2018 (âm lịch) tức ngày 24/6/2018 (dương lịch), ông T có cho anh T1 vay số tiền 40.000.000 đồng. Việc vay tiền thể hiện trên Giấy vay tiền do ông T viết, có chữ ký của anh T1 ở mục người vay tiền, ông T trực tiếp đưa số tiền 40.000.000 đồng cho anh T1. Hai bên thỏa thuận bằng miệng về thời hạn vay là 01 tháng và lãi suất là 3%/tháng.

Tổng số tiền anh T1 đã vay của ông T là 100.000.000 đồng. Kể từ ngày vay tiền, anh T1 không trả tiền gốc và lãi cho ông T1. Từ cuối năm 2018 đến nay, ông T có đòi tiền nhiều lần nhưng anh T1 không trả tiền gốc và tiền lãi cho ông T.

Tòa án đã giao giấy triệu tập hợp lệ nhưng anh T1 vắng mặt không có lý do. Tòa án kết hợp cùng chính quyền địa phương đến nhà anh T1 để tiến hành lấy lời khai, nhưng anh T1 không có nhà, do vậy Tòa án không lấy lời khai của anh T1 được.

Tại phiên tòa nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả số tiền gốc là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 26; điều 35; điều 39, 147, 235, 239, 254, 262, 264 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 166, 280, 351, 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền gốc là 100.000.000 đồng.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn T phải trả số tiền gốc là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi. Đây là vụ án K đòi tài sản, bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 cư trú tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, Toà án nhân dân huyện Yên Phong đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, điều 26; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét về yêu cầu của ông Nguyễn Văn T yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 phải trả cho số tiền gốc là 100.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3] Về nội dung: Xét thấy, tại “Giấy vay tiền” để ngày 15/10/2016 thể hiện anh T1 có vay của ông T số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận miệng là 1 tháng; tại giấy vay tiền để ngày 24/6/2018 thể hiện anh T1 có vay của ông T số tiền 40.000.000 đồng, thời hạn vay thỏa thuận miệng là 1 tháng; tại “Giấy vay vốn” để ngày 20/02/2018 đã thể hiện anh T1 có vay của ông T số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay là 20 ngày. Tổng số tiền anh T1 vay của ông T là 100.000.000đ. Đến hạn thanh toán, anh T1 không trả tiền cho ông T. Do vậy ông T khởi kiện yêu cầu anh T1 phải trả số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất: Ông T không yêu cầu do vậy không xem xét. Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định của pháp luật.

[ 4 ] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, do vậy bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 91, 147, 235, 239, 254, 262, 264, 273, 278 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 166, 280, 351, 463, 466 Bộ luật dân sự. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

2. Buộc anh Nguyễn Văn T1 phải trả ông Nguyễn Văn T số tiền gốc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Ông T không yêu cầu anh T1 trả tiền lãi.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

62
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về kiện đòi tài sản số 42/2024/DS-ST

Số hiệu:42/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về