TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
BẢN ÁN 16/2024/DS-ST NGÀY 27/06/2024 VỀ KIỆN ĐÒI TÀI SẢN
Ngày 27/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 21/2023/TLST - DS ngày 06/11/2023, về việc “Kiện đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2024/QĐXXST-DS ngày 24/5/2024, theo Quyết định hoãn phiên toà tòa số: 26/2024/QĐST-DS ngày 10/6/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Thôn T, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Sĩ K, sinh năm 1983 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn B, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh Hải Dương.
Bị đơn: 1. Ông Phạm Văn A, sinh năm 1963;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Anh: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (Có mặt);
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn O, sinh năm 1991;
2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993;
3. Bà Đặng Thị D, sinh năm 1925;
Người đại diện theo ủy quyền của anh O, chị H, bà D: Ông Phạm Văn Tr, sinh năm 1970 (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
4. Chị Phạm Thị C, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn NB, xã YM, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Người đại diện theo ủy quyền của chị C: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 (Có mặt);
5. Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1962 (Vắng mặt - xin vắng mặt);
6. Bà Trần Thị P, sinh năm 1972 (Vắng mặt - xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khu phố 3, CG, phường ĐN, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
7. Anh Ngô Tuấn A , sinh năm 1981 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố Nguyễn Giáo, phường ĐN, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
8. Ông Phạm Văn Tr, sinh năm 1970 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án của bà Nguyễn Thị L và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Sỹ K trình bày:
Bà L là chủ sử dụng thửa đất số 155, tờ bản đồ 18, diện tích 211,2 m2 (gọi tắt là thửa đất số 155); toạ lạc tại thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du mang tên bà Nguyễn Thị L, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận ngày 13/4/2022.
Nguồn gốc thửa đất trên bà mua lại của anh Nguyễn Anh T và chị Trần Thị P; khi mua hai bên có làm hợp đồng công chứng ngày 08/3/2022 tại Văn phòng Công chứng Hùng Vương. Trước kia là thửa đất số 89, tờ bản đồ 04, diện tích 208 m2 (gọi tắt là thửa đất số 89), bà L mua với giá ghi trên hợp đồng là 400.000.000 đồng chẵn, giá thực tế 1.850.000.000 đồng mục đích để giảm T thuế. Ngoài hợp đồng công chứng hai bên còn có giấy viết tay thể hiện việc mua bán thửa đất số 155, tài sản trên đất, giá T thực tế.
Khi mua đất và nhà bà có được vợ chồng anh T chị P cho vào nhà và đất để xem trước khi mua bán, anh chị có nói là hiện nay cho ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N, là chủ cũ ở nhờ, sau khi mua bán xong thì ông bà sẽ chuyển đi. Tuy nhiên sau khi mua bán xong do bà chưa có nhu cầu ở nên vẫn để cho ông bà ở nhờ, nay bà có nhu cầu để dùng nói ông Văn A, bà N chuyển đi nhưng ông bà không chuyển trả lại nhà đất cho bà.
Nay bà L yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kiện đòi tài sản buộc ông Văn A, bà N phải ra khỏi đất, nhà và trả lại cho bà thửa đất và nhà nêu trên.
Tại phiên toà, mong muốn hai bên hoà giải, bà L mua với giá 1.850.000.000 đồng, nay thời gian đã lâu, mua bán phải có lãi, nếu bị đơn mong muốn lấy lại tài sản bà L yêu cầu bị đơn phải trả 2.300.000.000 đồng thì hai bên hoà giải, bị đơn không đồng ý đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bà L không có ý kiến yêu cầu gì khác, anh K không trình bày gì thêm.
* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, bị đơn bà N trình bày:
Năm 2010, em chồng bà là ông Phạm Văn Tr, có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89 (nay là thửa đất số 155), mang tên vợ chồng bà để vay vốn ngân hàng tuy nhiên sau đó ông Tr vay ngân hàng nào thì vợ chồng bà không biết, vợ chồng bà có ký các văn bản để cho ông Tr vay ngân hàng, cụ thể ký vào các giấy tờ gì vợ chồng bà không nhớ. Tuy nhiên 1 tháng sau thì bà được biết có người tên Ngô Tuấn A vào thu lãi của ông Tr thì bà mới biết là ông Tr không vay ngân hàng mà vay T của anh Tuấn A . Vợ chồng bà cho ông Tr mượn giấy chứng nhận nhiều lần ông Tr đều trả lại sau một thời gian, lần này hai bên không thoả thuận là khi nào phải trả lại giấy chứng nhận của vợ chồng bà. Vợ chồng bà không biết là ông Tr sang tên cho anh Tuấn A từ khi nào và không biết thửa đất hiện mang tên ai. Chỉ khi Toà án thông báo thì bà mới biết là giấy chứng nhận hiện nay tên bà L, còn vợ chồng và gia đình bà vẫn ở trên thửa đất này từ trước đến nay.
Trên thửa đất này có mẹ chồng bà là bà Đặng Thị D, hai vợ chồng bà, con Tr là Phạm Văn O, con dâu là Nguyễn Thị H; con gái bà là Phạm Thị C, lấy chồng ở Bắc Giang, nghỉ học đi làm từ năm lớp 10, khi gia đình xây dựng nhà thì chị C đi làm được bao nhiêu T đi cho vợ chồng bà để cùng xây dựng nhà.
Nguồn gốc thửa đất trên là do vợ chồng bà mua khoảng năm 1989 sau đó năm 2001 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Phạm Văn A. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng xây dựng năm 2009, đến năm 2012 có xây dựng thêm và sơn sửa lại, nguồn T do vợ chồng bà làm là chính.
Bà được biết thửa đất hiện nay là thửa số 155 mang tên là Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận ngày 13/4/2022.
Nay bà L kiện đòi tài sản, quan điểm của vợ chồng bà là không đồng ý trả bà L. Ông Phạm Văn A đã ủy quyền cho bà để giải quyết liên quan đến vụ án. Tại phiên toà bà đề nghị ông Tr phải có trách nhiệm chuộc đất về trả cho vợ chồng ông bà. Phía nguyên đơn yêu cầu thoả thuận với giá 2.300.000.000 đồng, ông Tr đồng ý chuộc với giá 1.500.000.000 đồng, bà trả thêm 200.000.000 đồng thành 1.700.000.000 đồng, đề nghị Toà án hoà giải giúp, trường hợp không thoả thuận được đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà trình bày thêm về phần tài sản trên đất có công sức của cụ D, anh O, chị C tuy nhiên không có tài liệu, chứng cứ gì cung cấp cho Toà án.
Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị C là bà N trình bày:
Con gái bà là Phạm Thị C kết hôn lần đầu ở thành phố Từ Sơn năm 2013, sau đó ly hôn và kết hôn lần 2 năm 2020, hiện nay ở xã YM, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Chị C không học hết lớp 10, nghỉ học đi làm công nhân, T làm nhà có công sức của cháu, đóng góp đưa cho vợ chồng bà cùng gia đình để sửa lại năm 2012, khi đó cháu Duyên đã 18 tuổi. Chị C được biết thửa đất số 155 hiện nay mang tên bà L, quan điểm của chị C là không nhất trí trả đất và nhà. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cụ Đặng Thị D; ông Phạm Văn Tr trình bày:
Bà D là mẹ của ông và ông Anh hiện nay đang ở cùng vợ chồng ông Anh, bà N. Trên thửa đất đang tranh chấp có tài sản tuy nhiên bà D già yếu không có tài sản gì đóng góp cho gia đình ông Anh, không đóng góp gì về tài sản trên đất.
Bà được biết thửa đất hiện nay là thửa số 155, mang tên là Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận tháng 13/4/2022. Nay bà L kiện đòi tài sản, quan điểm của bà D là không đồng ý trả nhà và đất. Ngoài ra bà không có ý kiến yêu cầu gì khác.
*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án anh Phạm Văn O và tại phiên toà người đại diện là ông Phạm Văn Tr trình bày:
Anh Phạm Văn O là con Tr của ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N. Năm 2010 anh có biết chú ruột là ông Phạm Văn Tr cần T để làm ăn, bố mẹ anh có cho mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89, mang tên hộ gia đình ông Tr để vay vốn, cả gia đình anh đồng ý ký các văn bản thời điểm đó, sau này anh được biết là chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Ngô Tuấn A , sinh năm 1981, địa chỉ: Nguyễn Giáo, ĐN, TP Từ Sơn. Sau đó anh Tuấn A chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà Phượng. Hiện nay thửa đất mang tên ai anh không biết. Nay anh được Tòa án thông báo thửa đất đã mang tên bà Nguyễn Thị L. Trên thửa đất này có bà nội anh là bà Đặng Thị D, bố mẹ anh, vợ chồng anh. Em gái anh tên là Phạm Thị C, lấy chồng ở Bắc Giang, không liên quan đến thửa đất của gia đình, không đóng góp gì về tài sản trên đất. Trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng xây dựng năm 2009 do bố mẹ anh xây dựng. Năm 2011 anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H, vợ chồng anh không xây dựng thêm tài sản gì.
Nay bà L kiện đòi tài sản, anh đã được biết ý kiến của mẹ anh, anh đồng ý. Anh đề nghị ông Tr phải bỏ T ra để chuộc lại thửa đất cho bố mẹ anh. Anh đề nghị Tòa án hòa giải giúp. Do bận công việc nên anh xin được vắng mặt các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa.
Tại phiên toà ông Tr xin giữ nguyên lời trình bày của anh O. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị H và tại phiên toà người đại diện là ông Phạm Văn Tr trình bày:
Năm 2011, chị kết hôn với anh là Phạm Văn O. Chị đã được biết lời khai của anh O tại Toà án ngày 01/12/2023 chị nhất trí với lời khai của anh O. Do bận công việc nên chị xin được vắng mặt các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Tại phiên toà ông Tr xin giữ nguyên lời trình bày của chị H. Ngoài ra không có ý kiến yêu cầu gì khác.
*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P trình bày:
Ông bà đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện của bà L. Năm 2013, vợ chồng ông bà có mua thửa đất số 89, tại xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh bắc Ninh của anh Ngô Tuấn A . Hai bên có làm hợp đồng công chứng, chứng thực theo quy định và ông bà đã được sang tên trên GCNQSDĐ. Đến năm 2022, ông bà có chuyển nhượng thửa đất cho chị Nguyễn Thị L ở Hải Dương, hai bên có lập hợp đồng công chứng theo quy định. Khi mua và khi bán trên đất đã có tài sản trên đất. Khi mua và khi bán ông bà mua bán cả nhà và đất. Nay xác định không liên quan đến vụ án nên ông bà từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên tòa.
Ngoài ra ông T, bà P không trình bày gì thêm.
* Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Tr trình bày:
Ông là em Tr của ông Phạm Văn A, em chồng bà Nguyễn Thị N. Năm 2010, ông có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 89, mang tên vợ chồng ông Phạm Văn A và bà N để vay vốn ngân hàng tuy nhiên sau đó do cần T ngay nên có vay T của anh Ngô Tuấn A . Vợ chồng ông Văn A và bà N có đồng ý cho ông mượn giấy chứng nhận, làm hợp đồng chuyển nhượng cho anh Tuấn A để cho ông vay T. Trước đó ông cũng đã mượn giấy chứng nhận của ông bà để vay sau đó lại chuộc về cho ông bà. Việc cho mượn giấy chứng nhận, ông bà và gia đình hoàn toàn tự nguyện và tạo điều kiện cho ông làm ăn. Sau này ông được biết anh Ngô Tuấn A đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P và hiện nay ông bà đã chuyển nhượng cho bà L. Việc chuyển nhượng của ông T bà P, ông không biết do giấy chứng nhận đã mang tên ông bà rồi.
Trên thửa đất này có mẹ ông là bà Đặng Thị D, hai vợ chồng ông Anh, bà N, anh O, chị H. Chị Phạm Thị C, sinh năm 1993, lấy chồng ở Bắc Giang, không liên quan đến thửa đất của gia đình, không đóng góp gì về tài sản trên đất, tuy nhiên năm 2001 là thành viên hộ gia đình ông Anh.
Ông được biết thửa đất hiện nay là thửa số 155, mang tên là Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận ngày 13/4/2022.
Nay bà L kiện đòi tài sản, quan điểm của ông là không đồng ý. Đề nghị trả lại đất cho ông Anh và bà N. Đối với số T ông vay anh Tuấn A ông sẽ trả cả gốc và lãi hoặc ông sẽ trả cho bà L số T theo thoả thuận dưới sự chứng kiến của Toà án. Tại phiên toà ông đồng ý chuộc lại đất và nhà với giá 1.500.000.000 đồng, nếu nguyên đơn không đồng ý ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra ông không có ý kiến yêu cầu gì thêm.
*Toà án tiến hành xác minh và làm việc với Công an phường ĐN cung cấp:
Anh Ngô Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Khu phố Nguyễn Giáo, phường ĐN, thành phố Từ Sơn. Cán bộ Toà án cùng cán bộ Công an xuống tại nhà anh Tuấn A nhiều lần nhưng không gặp. Vì vậy lập biên bản làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 106, 107, 116, 117, 119, 158, 164, 166, 189, 190, 500, 501, 502, 503 BLDS; Các Điều 95, 97, 98, 100, 165, 166, 167, 168, 188, 203 Luật đất đai; Điều 39, 147 BLTTDS. Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc ông Văn A và bà N phải trả lại thửa đất số 155, tờ bản đồ 18, diện tích 211,2 m2 Toạ lạc tại thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du cùng tài sản gắn liền trên đất cho bà L.
Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Ông Văn A và bà N phải chịu theo quy định.
Về án phí: Ông Văn A và bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L nộp đơn khởi kiện theo đúng mẫu và đã nộp T tạm ứng án phí, đối với bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N; bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tiên Du giải quyết: Buộc ông Văn A và bà N phải trả lại bà thửa đất số 155 và tài sản trên đất mang tên bà Nguyễn Thị L.
Bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N có nơi cư trú tại Thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, tài sản tranh chấp toạ lạc trên địa bàn huyện Tiên Du; Toà án xác định đây là vụ án dân sự có quan hệ tranh chấp kiện đòi tài sản, do đó căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 BLTTDS; Toà án nhân dân huyện Tiên Du đã thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Thủ tục tố tụng: Trọng vụ án có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Tuấn A , ông Nguyễn Anh T, bà Trần Thị P vắng mặt, Toà án đã hoãn phiên toà vào ngày 10/6/2024, tại phiên toà hôm nay các đương sự vẫn vắng mặt, vì vậy Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L yêu cầu: Buộc ông Văn A và bà N phải trả cho bà thửa đất số 155, tờ bản đồ 18, diện tích 211,2 m2; toạ lạc tại thôn CĐ, xã TP, huyện Tiên Du mang tên bà Nguyễn Thị L, HĐXX nhận thấy:
Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất số 155, mang tên bà Nguyễn Thị L, được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận ngày 13/4/2022. Nguồn gốc thửa là của hộ ông Phạm Văn A đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001. Năm 2011, hộ ông Phạm Văn A đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Tuấn A , các bên có lập hợp đồng và công chứng tại Văn phòng Công chứng Công Thành ngày 12/7/2011, đến ngày 25/10/2012 GCNQSDĐ được sang tên cho ông Ngô Tuấn A .
Ngày 24/4/2013, ông Ngô Tuấn A có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P hợp đồng có được công chứng tại Văn phòng Công chứng Công Thành, ngày 14/5/2013 GCNQSDĐ được sang tên cho ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P.
Ngày 08/3/2022, ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị L hợp đồng có được công chứng tại Văn phòng Công chứng Hùng Vương, ngày 13/4/2022 GCNQSDĐ được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị L.
Quá trình chuyển nhượng và sang tên GCNQSDĐ từ hộ ông Phạm Văn A sang ông Ngô Tuấn A diễn ra từ năm 2011 đến năm 2012 tuy nhiên sau khi ký kết hợp đồng hộ ông Văn A vẫn sinh sống trên thửa đất và xây dựng 01 ngôi nhà 3 tầng năm 2009, xây dựng thêm và sơn sửa lại năm 2012. Việc chuyển nhượng GCNQSDĐ từ ông Ngô Tuấn A sang ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P; từ ông Nguyễn Anh T và bà Trần Thị P sang cho bà Nguyễn Thị L, hộ ông Phạm Văn A vẫn ở nhờ trên thửa đất. Tại các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ chuyển nhượng tài sản là thửa đất không thể hiện việc chuyển nhượng tài sản trên đất tuy nhiên các bên đều thỏa thuận miệng bao gồm các tài sản trên đất. Việc chuyển nhượng từ ông T bà P cho bà L hai bên còn lập thêm hợp đồng viết tay ngày 08/3/2022 trong đó viết rõ nội dung chuyển nhượng thửa đất, ngôi nhà 3 tầng, tài sản trên đất và giá trị chuyển nhượng. Việc bà L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T, bà P là hoàn toàn ngay tình, trước đó các bên nhận chuyển nhượng của những ai bà L hoàn toàn không biết, thực tế ông T bà P nhận chuyển nhượng của anh Ngô Tuấn A , ông Ngô Tuấn A nhận chuyển nhượng của ông Anh bà N. Khi chuyển nhượng cho anh Ngô Tuấn A các thành viên hộ gia đình ông Văn A đều ký vào hợp đồng chuyển nhượng, đến nay không ai có ý kiến gì về chữ ký trong hợp đồng trên. Nhận thấy các bên chuyển nhượng cho nhau đều thông qua hợp đồng có được công chứng tuân thủ các quy định pháp luật công chứng. Ông Tr, bà N, ông Anh cho rằng có sự vay mượn T giữa ông Tr và anh Tuấn A tuy nhiên đến nay không ai cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có sự vay mượn T cho Toà án.
Từ những phân tích nhận định nêu trên HĐXX xét thấy tài sản nêu trên bà L nhận chuyển nhượng là hợp pháp, do đó yêu cầu khởi kiện của bà L về việc kiện đòi tài sản là có căn cứ nên được chấp nhận, buộc ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N cùng các thành viên gia đình phải trả cho bà L thửa đất số 155 nêu trên.
Đối với phần tài sản trên đất: Gồm có 01 ngôi nhà 3 tầng và tài sản gắn liền với đất, nhận thấy tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/7/2011 giữa hộ gia đình ông Anh và anh Tuấn A chỉ thỏa thuận đối với thửa đất mà không thỏa thuận về tài sản trên đất. Trong khi trên đất đã có 01 ngôi nhà xây dựng năm 2009, sau đó có xây dựng thêm và sơn sửa năm 2012, sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng thì gia đình ông Anh còn xây dựng thêm công trình phụ và sơn sửa lại, hoàn thiện ngôi nhà 3 tầng trên thửa đất số 155 mang tên anh Tuấn A . Năm 2013, ông T bà P nhận chuyển nhượng của anh Ngô Tuấn A đã có tài sản trên đất, 2022 ông bà chuyển nhượng cho bà L cũng đã có tài sản trên đất, ông bà xác định khi nhận chuyển nhượng từ anh Tuấn A và khi chuyển nhượng cho bà L ông bà đều nhận, chuyển nhượng cả tài sản trên đất. Các bên thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thửa đất số 155 mà không bao gồm tài sản trên đất là do phần tài sản trên đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Tuy nhiên, giữa ông T bà P và bà L có thỏa thuận bằng giấy viết tay về việc chuyển nhượng cả phần tài sản trên đất gồm ngôi nhà 3 tầng cùng các công trình phụ, giá chuyển nhượng....Việc bà L nhận chuyển nhượng thửa đất cùng với tài sản trên đất thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết theo quy định pháp luật, do vậy việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa bà L và ông T bà Phượng là ngay tình và cần được bảo vệ. Mặt khác, trong quá trình giải quyết bà N, ông Tr, anh O mặc dù không đồng ý trả nhưng đều đề nghị Tòa án hòa giải để ông Tr phải trả T cho bà L để chuộc lại nhà đất cho gia đình ông Anh. Do vậy, bà L khởi kiện yêu cầu gia đình ông Anh phải trả lại cả phần tài sản trên đất là có căn cứ. Trong trường hợp ông Anh, bà N, ông Tr chứng minh được việc anh Ngô Tuấn A bán tài sản trên đất của mình thì ông bà có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
[3]. Tại phiên toà đại diện VKS nhân dân huyện Tiên Du phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là đúng và đầy đủ, có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, nên được chấp nhận.
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Bị đơn ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải chịu T chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản. Xác nhận nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đã nộp 15.000.000 đồng T chi phí thẩm định và định giá; ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà Nguyễn Thị L số T là 15.000.000 đồng.
[5]. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận vì vậy bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ông Phạm Văn A là người cao tuổi nên miễn án phí DSST cho ông Anh.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 106, 107, 116, 117, 119, 158, 164, 165, 166, 189, 190, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ vào Điều 95, 97, 98, 99, 100, 105, 166, 167, 168, 188, 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
đồng T chi phí thẩm định và định giá; ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N phải trả cho bà Nguyễn Thị L số T là 15.000.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bản án về kiện đòi tài sản số 16/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 16/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 27/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về