Bản án về không công nhận là vợ chồng số 33/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 33/2024/HNGĐ-ST NGÀY 31/07/2024 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 103/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2024, về việc: “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐST- HNGĐ ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Hồ Đức T, sinh năm 2002; Nơi cư trú: tổ 20, phường T, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thanh H – sinh năm 1991; Nơi cư trú: phòng 701, chung cư Sunhome, số 109 đường Bùi Dương Lịch, phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17/5/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Đức T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông và bà H tìm hiểu và tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2022 tại thành phố Hà Nội, mặc dù sống chung nhưng giữa ông và bà H không tổ chức cưới hỏi cũng như đăng ký kết hôn. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống và giữa ông và bà H sống ly thân từ năm 2023 cho đên nay. Ông sống ở Hà Nội bà H sống tại Đà Nẵng không có trách nhiệm gì với nhau. Nay ông xét thấy tình cảm giữa ông và bà H không còn nên ông làm đơn đề nghị Toà án giải quyết không nhận ông và bà H là vợ chồng.

- Về con chung: Ông và bà H có một con chung Hồ Nguyễn Hoàng Nhi, sinh ngày 09/9/2023, do không đăng ký kết hôn nên khi sinh ra ông và bà H đã tự đi xác nhận AND và ra UBND phường Hoàng Đông, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam làm giấy khai sinh đứng tên cha là Hồ Đức T và mẹ là Nguyễn Thị Thanh H. Khi không công nhận là vợ chồng ông đồng ý giao con chung cho bà H nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ.

- Về tài sản chung, nợ chung: Giữa ông và bà H không có tài sản chung và nợ chung.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Theo như đơn kiện của ông Hồ Đức T về quan hệ hôn nhân bà xác nhận là đúng, theo đó giữa bà và ông T có tìm hiểu và tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2022 tại thành phố Hà Nội, mặc dù sống chung nhưng giữa bà và ông T không tổ chức cưới hỏi cũng như đăng ký kết hôn. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau nên xảy ra cãi vã. Bà và ông T sống ly thân từ năm 2023 cho đên nay, bà sống tại Đà Nẵng ông T sống ở Hà Nội không có trách nhiệm gì với nhau. Nay ông T có đơn đề nghị không công nhận bà và ông T là vợ chồng bà đồng ý và đề nghị Toà án không công nhận giữa bà và ông T là vợ chồng.

- Về con chung: bà và ông T có một con chung Hồ Nguyễn Hoàng Nhi, sinh ngày 09/9/2023, do không đăng ký kết hôn nên khi sinh ra bà và ông T đã tự đi xác nhận AND và ra UBND phường Hoàng Đông, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam làm giấy khai sinh đứng tên cha là Hồ Đức T và mẹ là Nguyễn Thị Thanh H. Khi không công nhận là vợ chồng bà xin nhận nuôi con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000đ.

- Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà và ông T không có tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Trong khoảng thời gian chung sống với nhau cho đến nay, ông T và bà H không thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành quận Sơn Trà theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà H theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 2022 đến nay, nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H là không hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Trong quá trình chung sống giữa ông T và bà H xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Ông T và bà H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ giữa ông T và bà H là vợ chồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông T và bà H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông T và bà H là vợ chồng, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Ông T và bà H có một con chung con chung Hồ Nguyễn Hoàng Nhi, sinh ngày 09/9/2023. Khi không công nhận là vợ chồng thì hai bên đồng ý giao con cho bà H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, theo yêu cầu của bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000đ. Ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ. HĐXX xét thấy ông Hồ Đức T là sinh viên mới ra trường theo xác nhận của Công ty Luật TNHH Barrister Việt Nam thì ông T hiện đang học việc tại công ty thu nhập chưa ổn định do đó việc bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000đ là cao so với cuộc sống hiện tại của ông T. Như vậy so với mức yêu cầu của bị đơn và khả năng cấp dưỡng của nguyên đơn, HĐXX nghĩ buộc ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000đ là phù hợp.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà H xác nhận không có nên HĐXX không đề cập đến.

[3] Về án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng: Ông T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14 và Điều 15 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Đức T đối với bà Nguyễn Thị Thanh H .

2/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Hồ Đức T và bà Nguyễn Thị Thanh H là vợ chồng.

3/ Về con chung: Giao con chung Hồ Nguyễn Hoàng Nhi, sinh ngày 09/9/2023 cho bà Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hồ Đức T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau khi không công nhận là vợ chồng các bên có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

4/ Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.

5/ Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ tiến án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn T rà, TP Đ à Nẵng , theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002592 ngày 27 tháng 5 năm 2024. Ông T còn phải nộp tiếp số tiền 300.000đ.

Báo ho các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

133
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về không công nhận là vợ chồng số 33/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:33/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về