TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 37/2024/HC-ST NGÀY 13/05/2024 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Ngày 13 tháng 5 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLST-HC ngày 15 tháng 01 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HC ngày 29-4-2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Vũ Thị Bích P, sinh năm 1964 Địa chỉ: Số nhà H đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1981 Địa chỉ: A thôn K' L, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B Địa chỉ: B Hồ N, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn P1- Chức vụ: Chủ tịch Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Ngọc H- Chức vụ:Phó Chủ tịch; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn O, sinh năm 1946 Địa chỉ: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Vũ Thị Mỹ D, sinh năm 1972 Địa chỉ: Thôn K, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Vũ Thị X, sinh năm 1962 Địa chỉ: Số nhà I N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện để ngày 26-12-2023, bản tự khai của người khởi kiện bà Vũ Thị Bích P trình bày:
Bà P hiện đang sử dụng thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, nguồn gốc thửa đất do nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị N ngày 01/7/2019 và đã được xác nhận biến động tại trang tư của GCNQSDĐ số AK 813206 do UBND thành phố B cấp cho ông Lê Hồng T1, bà Nguyễn Thị N ngày 21-9-2007.
Quá trình sử dụng đất ổn định, ranh giới rõ ràng không có tranh chấp với các hộ liền kề.
Vào tháng 9/2023, bà P làm thủ tục cấp đổi số mới thì được biết phần đuôi thửa đất mà bà đang sử dụng đã được UBND thị xã B cấp vào thửa 691, tờ bản đồ 13 phường L tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 cho ông Trần Văn Đ đã đăng ký biến động sang tên cho ông Trần Văn O. Bên cạnh đó, diện tích thực tế bà P đang sử dụng không đúng với diện tích được cấp trong GCNQSDĐ số AK 813206 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị N ngày 21-9-2007 nay đã đăng ký biến động tại trang tư cho bà Vũ Thị Mỹ P2.
Do đó, bà P2 có đơn khởi kiện đề nghị Tòà án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 ngày 19-9-2001 do UBND thành phố B cấp cho ông Trần Văn Đ nay đã đăng ký biến động tại trang tư cho ông Trần Văn O đối với thửa 691, tờ bản đồ số 13 phường L và hủy GCNQSDĐ số AK 813206 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1, bà Nguyễn Thị N ngày 21-9-2007 nay đã đăng ký biến động tại trang tư cho bà Vũ Thị Bích P.
* Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND thành phố B trình bày:
1. Quá trình ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 cấp ngày 19/9/2001 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ nay đã biến động sang tên cho ông Trần Văn O đối với thửa đất số 691, tờ bản đồ 13, phường L.
Ngày 19/9/2001, UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 cho hộ ông Trần Văn Đ theo Quyết định số 1887/QĐ-UB đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 13, phường L diện tích 2.272m2 đất trồng cây lâu năm. Việc UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận là phù hợp với quy định của Luật Đất đai 1993 và các Văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
Ngày 20/7/2010, bà Lê Thị L nhận thừa kế toàn bộ thửa đất số 108, tờ bản đồ số 13, phường L, diện tích 2.272m2 đất trồng cây lâu năm theo văn bản thừa kế số 8355 quyền số 9 TP/CC-SCT/HĐGD do Phòng C- Lâm Đồng chứng nhận ngày 09/7/2010.
Ngày 02/8/2010, bà Lê Thị L tách thửa đất số 108 thành thửa đất số 691, diện tích 1.832m2 đất nông nghiệp và thửa đất số 692, diện tích 440m2 đất nông nghiệp.
Ngày 08/7/2019, ông Trần Văn O nhận thừa kế thửa đất 691 diện tích 1.832m2 đất nông nghiệp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 theo hồ sơ đăng ký biến động số 70956.
2. Quá trình ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 ngày 21/9/2007 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị N, nay đã đăng ký biến động sang tên bà Vũ Thị Bích P đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, phường L.
Ngày 21/9/2007, hộ ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị N được UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89 III, diện tích 99,4m2 đất ở. Việc UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 phù hợp với quy định của Luật Đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật.
Ngày 09/6/2016, bà Nguyễn Thị N được toàn quyền sử dụng thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, diện tích 99,4m2 đất ở theo Văn bản phân chia di sản thừa kế số 1692 quyền số 45TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 20/4/2016, đăng ký biến động theo hồ sơ số 37546.
Ngày 01/7/2019, bà Nguyễn Thị N chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89 III, diện tích 99,4m2 đất ở cho bà Vũ Thị Bích P theo hồ sơ biến động số 70438.
Ý kiến của UBND thành phố B đối với yêu cầu của người khởi kiện.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 cấp ngày 19/9/2001 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ nay đã biến động sang tên cho ông Trần Văn O đối với thửa đất số 691, tờ bản đồ 13, phường L; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 ngày 21/9/2007 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1 bà Nguyễn Thị N, nay đã đăng ký biến động sang tên bà Vũ Thị Bích P đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89 III, phường L.
Căn cứ Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các Văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành, Ủy ban nhân dân thành phố B đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng thụ lý giải quyết theo quy định và thẩm quyền. Sau khi có kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân, UBND thành phố sẽ hướng dẫn hộ gia đình thực hiện theo quy định.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn O trình bày:
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29-01-2024 (BL 96-98) ông Trần Văn O có mặt và trình bày bà Vũ Thị Bích P, bà Vũ Thị Mỹ D, bà Vũ Thị X là người đang sử dụng đất trên thực tế nhưng thuộc một phần thửa 691, tờ bản đồ 13, phường L, thành phố B đang đứng tên Trần Văn O ( Số T 131752). Số gốc ông O đang quản lý, không cầm cố thế chấp tại tổ chức tín dụng, ngân hàng nào, cũng không tranh chấp đất với ai. Do bận công việc, điều kiện đi lại khó khăn nên ông O đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông, ông cam đoan không thắc mắc khiếu nại gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Mỹ D, bà Vũ Thị X trình bày:
Bà D, bà X đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Bích P về yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 do UBND thành phố B cấp cho ông Trần Văn Đ nay đã đăng ký biến động tại trang tư cho ông Trần Văn O đối với thửa 691, tờ bản đồ số 13. Do thửa đất này cũng cấp trùng lên diện tích mà bà X, bà D đang sử dụng.
Vụ án đã được tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo thủ tục chung; không tiến hành đối thoại được.
Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều vắng mặt và vẫn giữ nguyên nội dung trình bày, yêu cầu như trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không vi phạm gì. Đối với người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đã viện dẫn, phân tích các cơ sở pháp lý cho rằng yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 158 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về đối tượng, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:
Tháng 9/2023, bà P đi làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết phần đuôi đất mà bà đang quản lý sử dụng đã được cấp vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn O, đồng thời diện tích thực tế bà đang sử dụng không đúng với diện tích bà được cấp sổ.
Do vậy, ngày 26-12-2023, bà Vũ Thị Bích P có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ, đã đăng ký biến động tại trang tư cho ông Trần Văn O đối với thửa 691, tờ bản đồ số 13 phường L và hủy GCNQSDĐ số AK 813206 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1, bà Nguyễn Thị N ngày 21-9-2007, đã đăng ký biến động tại trang tư cho bà Vũ Thị Mỹ P2 đối với thửa 496, tờ bản đồ D.89.III, phường L.
Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 30, Điều 32, Điều 116 của Luật tố tụng hành chính, xác định đối tượng khởi kiện là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng và còn trong thời hiệu khởi kiện.
[3] Xét tính hợp pháp có căn cứ của quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện:
[3.1] Theo hồ sơ địa chính thể hiện đối với GCNQSDĐ số T131752 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ nay đã biến động sang tên cho ông Trần Văn O đối với thửa 691, tờ bản đồ số 13, phường L (BL 20-39):
Ngày 19/9/2001, UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 cho hộ ông Trần Văn Đ theo Quyết định số 1887/QĐ-UB đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 13, phường L diện tích 2.272m2 đất trồng cây lâu năm.
Ngày 20/7/2010, bà Lê Thị L (vợ ông Đ) nhận thừa kế toàn bộ thửa đất số 108, tờ bản đồ số 13, phường L, diện tích 2.272m2 đất trồng cây lâu năm theo văn bản thừa kế số 8355 quyền số 9 TP/CC-SCT/HĐGD do Phòng C- Lâm Đồng chứng nhận ngày 09/7/2010.
Ngày 02/8/2010, bà Lê Thị L tách thửa đất số 108 thành thửa đất số 691, diện tích 1.832m2 đất nông nghiệp và thửa đất số 692, diện tích 440m2 đất nông nghiệp.
Ngày 09-12-2013, bà L chết. Tại văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày 14-6-2019 thống nhất để lại thửa đất 691, diện tích 1.832m2 cho ông Trần Văn O.
Ngày 08/7/2019, ông Trần Văn O nhận thừa kế thửa đất 691, diện tích 1.832m2 đất nông nghiệp tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 theo hồ sơ đăng ký biến động số 70956.
Về trình tự, thủ tục cấp, thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001; Luật đất đai 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật đất đai 2013.
[3.2] Theo hồ sơ địa chính thể hiện đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 ngày 21/9/2007 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1 bà Nguyễn Thị N, đã đăng ký biến động sang tên bà Vũ Thị Bích P đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, phường L (BL 71-82):
Ngày 21/9/2007, hộ ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị N được UBND thị xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89. III, diện tích 99,4m² đất ở.
Ngày 09/6/2016, bà Nguyễn Thị N được toàn quyền sử dụng thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, diện tích 99,4m² đất ở theo Văn bản phân chia di sản thừa kế số 1692 quyền số 45TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 20/4/2016, đăng ký biến động theo hồ sơ số 37546.
Ngày 01/7/2019, bà Nguyễn Thị N chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, diện tích 99,4m² đất ở cho bà Vũ Thị Bích P theo hồ sơ biến động số 70438, và đã đăng ký biến động tại trang tư Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206.
Về trình tự, thủ tục cấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001; Luật đất đai 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật đất đai 2013.
[3.4] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29-01-2024 (BL 96-98) thể hiện:
Phần diện tích đất bà Vũ Thị Bích P đang sử dụng có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường N, phía Nam giáp nhà bà Vũ Thị X, phía Tây giáp đường đất, phía Bắc giáp nhà bà Vũ Thị Mỹ D.
Về hiện trạng: Trên đất có nhà và phía sau là đất trống. Hiện trạng ranh giới rõ ràng, không tranh chấp lấn chiếm với các hộ xung quanh.
Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B (BL 95, 95a, 95b) thể hiện:
Tổng diện tích bà P đang quản lý sử dụng là 786m2 thuộc thửa 496, một phần thửa (109a, 110a, 495), một phần thửa 691, tờ bản đồ 37 (tờ bản đồ 13 cũ).
Tổng diện tích bà Mỹ D đang quản lý sử dụng là 759m2 thuộc thửa 109a, một phần thửa 691 tờ bản đồ 37 ( tờ bản đồ 13 cũ).
Tổng diện tích bà Vũ Thị X đang quản lý sử dụng là 739m2 thuộc một phần thửa (495 +110a), một phần thửa 691 tờ bản đồ 37 (tờ bản đồ 13 cũ).
Như vậy, lời trình bày của người khởi kiện; người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất, phù hợp với kết quả đo vẽ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký thành phố Bảo Lộc thể hiện thửa đất 691 đã cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 ngày 19-9-2001 do UBND thành phố B cấp cho ông Trần Văn Đ, đã đăng ký biến động tại trang tư cho ông Trần Văn O, thực tế là do các bà Vũ Thị Mỹ D, Vũ Thị Bích P, Vũ Thị X đang quản lý và sử dụng.
[4] Từ những cơ sở viện dẫn, phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 ngày 19/9/2001 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ, đã biến động sang tên cho ông Trần Văn O đối với thửa đất số 691, tờ bản đồ 13, phường L và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 ngày 21/9/2007 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1 bà Nguyễn Thị N, đã đăng ký biến động sang tên bà Vũ Thị Bích P đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, phường L là không đúng hiện trạng, đối tượng sử dụng đất.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Bích P hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 ngày 19/9/2001 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ, đã biến động sang tên cho ông Trần Văn O đối với thửa đất số 691, tờ bản đồ 13, phường L và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 ngày 21/9/2007 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị N, đã đăng ký biến động sang tên bà Vũ Thị Bích P đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, phường L để sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hiện trạng, đối tượng sử dụng và pháp luật về đất đai.
Đối với các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất nếu có tranh chấp do các bên tự thỏa thuận giải quyết; trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục chung.
[5] Lập luận và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ hết tổng số tiền 2.740.000đ (hai triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng). Bà Vũ Thị Bích P đã nộp đủ và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên phần quyết định của bản án không cần đề cập đến.
[7] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Bích P được chấp nhận nên UBND thành phố B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Bà Vũ Thị Bích P được hoàn trả lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 3; Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; khoản 1, 3 Điều 158; Điều 164; Điều 191; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348; Điều 206 của Luật tố tụng hành chính;
Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2019;
Căn cứ Luật đất đai 1993; sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001; Luật đất đai 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật đất đai 2013.
Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 25/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều, khoản của Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Bích P về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai”.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 131752 ngày 19/9/2001 do UBND thị xã B cấp cho ông Trần Văn Đ, đã biến động sang tên cho ông Trần Văn O đối với thửa đất số 691, tờ bản đồ 13, phường L, B, Lâm Đồng.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 813206 ngày 21/9/2007 do UBND thị xã B cấp cho ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị N, đã đăng ký biến động sang tên bà Vũ Thị Bích P đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ D.89.III, phường L, B, Lâm Đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự trong vụ án liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hiện trạng sử dụng theo quy định pháp luật về đất đai.
Đối với các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất nếu có tranh chấp do các bên tự thỏa thuận giải quyết; trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục chung.
2. Về án phí: Buộc UBND thành phố B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Vũ Thị Bích P số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008794 ngày 15-01-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
3. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước lĩnh vực đất đai số 37/2024/HC-ST
| Số hiệu: | 37/2024/HC-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Ngày ban hành: | 13/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về