Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 85/2024/HC-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 85/2024/HC-ST NGÀY 08/07/2024 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2024/TLST-HC, ngày 06/5/2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HC ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 130/TB-TA ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đăng V, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hiệp H, sinh năm 1965. Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.

Địa chỉ: khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P.

Địa chỉ: Số C T, phường L, Thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ: Số D T, Thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

3. Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1987. Địa chi: Thôn P, xã H, huyện H, tinh B.

4. Bà Nguyễn Tường V1, sinh năm 1987. Địa chi: Khu phố C, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt: bà Nguyễn Thị Hiệp H; các đương sự còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Hiệp H trình bày:

Thửa đất số 706 diện tích 205m², mục đích sử dụng đất ở tại đô thị, có địa chỉ tại khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156076 ngày 08/3/2019 cho ông Nguyễn Tấn C. Ngày 31/5/2019, bà Đặng Cẩm N được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận sang tên thửa đất 706 do nhận chuyển nhượng Ngày 26/9/2019, ông Nguyễn Đình T được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận sang tên thửa đất 706 do nhận chuyển nhượng. Ngày 10/5/2023, ông V nhận chuyển nhượng thửa đất 706 từ ông Nguyễn Đình T và vợ là bà Nguyễn Tường V1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông V được lập ngày 10/5/2023 tại Văn phòng C1 – Số G T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Cùng ngày, ông V nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ để sang tên theo quy định. Ngày 17/5/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 738/TB- CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông V, với lý do: “Thửa đất ở tại đô thị của ông có một phần diện tích có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất giao thông) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt." Hiện nay, chưa có ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết của cấp có thẩm quyền. Thửa đất 706 đã được cấp Giấy CNQSD đất, việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông V là đúng pháp luật. Ông V đủ điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không thuộc trường hợp cấm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất nhận chuyển nhượng cũng không thuộc trường hợp cấm chuyển quyền theo quy định của pháp luật đất đai. Khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng... khi có giấy CNQSD đất..., điểm b khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai quy định cá nhân được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng QSD đất..., khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai quy định việc chuyển đổi, chuyển nhượng... QSD đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai. Việc Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông V tại Thông báo số 738 nêu trên đã hạn chế quyền của người sử dụng đất đối với ông V, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của ông V, trái với các quy định pháp luật đã nêu. Do đó, ông V yêu cầu Tòa án:

1. Hủy Thông báo số 738/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ;

2. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đăng V theo quy định của pháp luật.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 1908/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 24/6/2024:

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng V, Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp ý kiến tại Công văn số 5495 ngày 18/6/2024 và toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn số 5495 ngày 18/6/2024 và không cung cấp hồ sơ, tài liệu nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 5495/CNVPĐKĐĐPT- TTLT ngày 18/6/2024:

Ngày 10/5/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đăng V tại biên nhận số 2023- 7108/TNHS.

Ông Nguyễn Đăng V nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Tường V1 đối với thửa đất số 706, tờ bản đồ số 4, diện tích 205 m² đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156076 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/3/2019, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình T ngày 26/9/2019. Thửa đất số 706, tờ bản đồ số 4 có lịch sử biến động như sau:

-Ngày 08/3/2018, ông Nguyễn Tấn C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CM 375902 đối với thửa đất số 655, tờ bản đồ số 4, diện tích 4375,4 m² đất trồng cây lâu năm.

- Ngày 16/8/2018, ông Nguyễn Tấn C được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại đô thị với diện tích 2834,1 m² gồm 04 (bốn) vị trí chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 5835/QĐ- UBND; trong đó phần diện tích chuyển mục đích sử dụng đất 428,0 m² (vị trí 4 theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 46-2018 lập ngày 14/3/2018 kèm theo Quyết định số 5835/QĐ-UBND) được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số CO 749745 vào ngày 02/10/2018 đối với thửa đất số 680, tờ bản đồ số 4, diện tích 428,0 m² đất ở tại đô thị.

- Ngày 08/11/2018, ông Nguyễn Tấn C thực hiện thủ tục biến động giảm diện tích do hiến đất làm đường đi đối với thửa đất số 680, tờ bản đồ số 4 của Giấy chứng nhận số CO 749745. Thửa đất số 680, tờ bản đồ số 4 được tách thành 02 (hai) thửa đất số 706 và 707; trong đó thửa đất số 706 có diện tích 205,0 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CQ 156076 ngày 08/3/2019. Ngày 31/5/2019, Chi nhánh Văn phòng xác nhận cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số CQ 156076 chuyển nhượng cho bà Đặng Cẩm N. Ngày 26/9/2019, Chi nhánh Văn phòng xác nhận cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận số CQ 156076 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình T.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 706, tờ bản đồ số 4 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép ông Nguyễn Tấn C được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 5835/QĐ-UBND ngày 16/8/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau : “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh". Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp). Tại thời điểm giải quyết hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 17/5/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 738/TB- CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đăng V.

Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V2 thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Nguyễn Đăng V được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định. Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: " ...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T." Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

2. Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến trong vụ án.

3. Bà Nguyễn Thị Hiệp H là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Tường V1 cùng trình bày:

Thửa đất 706 đã được cấp Giấy CNQSD đất, việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đăng V là đúng pháp luật. Ông V đủ điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không thuộc trường hợp cấm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất nhận chuyển nhượng cũng không thuộc trường hợp cấm chuyển quyền theo quy định của pháp luật đất đai. Khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng...khi có giấy CNQSD đất..., điểm b khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai quy định cá nhân được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng QSD đất..., khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai quy định việc chuyển đổi, chuyển nhượng... QSD đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai. Việc Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông V tại Thông báo số 738 nêu trên đã hạn chế quyền của người sử dụng đất đối với ông V, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, trái với các quy định pháp luật đã nêu. Vì vậy, ông T, bà V1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng V.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng V, hủy Thông báo số 738/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Đăng V, ông Nguyễn Đình T, bà Nguyễn Tường V1 vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ và UBND thành phố P vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Về quyền khởi kiện: Ông Nguyễn Đăng V nhận chuyển nhượng thửa đất số 706, tờ bản đồ số 4, diện tích 205m2 đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 156076 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 08/3/2019 đứng tên ông Nguyễn Tấn C, theo Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 03831, quyển số 04/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/5/2023 tại Văn phòng C1.

Ngày 10/5/2023, ông Nguyễn Đăng V nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Ngày 17/5/2023, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P ban hành Thông báo số 738/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đăng V. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Đăng V đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ông có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 738/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 738/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/5/2023. Đến ngày 22/4/2024, ông Nguyễn Đăng V nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

[4.2] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Nguyễn Đăng V và ông Nguyễn Đình T, bà Nguyễn Tường V1 phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất nhận chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

[4.3] Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy định của pháp luật nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của ông Nguyễn Đăng V. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 738/TB- CNVPĐKĐĐPT ngày 17/5/2023 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ông Nguyễn Đăng V được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 95, khoản 1 Điều 168, Điều 169, 188 Luật Đất đai;

- Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng V.

- Hủy Thông báo số 738/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 17/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Đăng V theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hành chính sơ thẩm:

- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.

- Ông Nguyễn Đăng V không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Đăng V 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000259 ngày 06/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/7/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

78
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 85/2024/HC-ST

Số hiệu:85/2024/HC-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Thuận
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:08/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về