Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai số 1084/2023/HC-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1084/2023/HC-PT NGÀY 28/12/2023 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 725/2023/TLPT-HC ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 26/2023/HC-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2987/2023/QĐPT-HC ngày 28 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1989 - Vắng mặt;

Địa chỉ: Số 02, Hẻm 02, Tổ 4, Khu phố 1, đường H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh;

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Minh T:

- Ông Dương Lê T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ 38, ấp S, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 14/11/2022) - Có mặt;

- Ông Đoàn Anh D, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 05/9/2023) - Có mặt;

2. Người bị kiện:

2.1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh;

2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh;

Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T: Ông Nguyễn Ngọc T2 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành (Văn bản ủy quyền số 23/GUQ-UBND ngày 17/7/2023) – Có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

+ Ông Nguyễn Hoàng A, Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T – Có mặt;

+ Ông Nguyễn Huy G, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T – Có mặt;

Cùng địa chỉ: Số 99 Nguyễn Chí Thanh, Khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh;

3. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Nguyễn Minh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 22/6/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Minh T và người đại diện hợp pháp của ông T trình bày:

Ông T là chủ sử dụng Thửa đất số 15 (một phần Thửa đất số 149, 167 cũ), Tờ bản đồ số 01 tại thị trấn T. Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 4474/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 (viết tắt là Quyết định số 4474) thu hồi 385,2 m2 đất của ông để thực hiện Dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T.

Tại khoản 6 Điều 9 Nghị định số 43/2015/NĐ-CP quy định phạm vi tối đa của hành lang bảo vệ nguồn nước không được vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ đê về phía sông hoặc hành lang an toàn của các công trình về phía bờ, nên Dự án Bờ kè đã vượt mức quy định về thu hồi đất. Thực tế từ mép suối Cần Đăng lên hết phần đất của ông là khoảng 40 mét, hiện trạng của ông sử dụng diện tích 19 m x 38 m = 722 m2. Phần diện tích nếu phải thu hồi khoảng 380 m2 nên Quyết định số 4474 thu hồi 385,2 m2 là trái quy định của pháp luật và không đúng hiện trạng sử dụng. Ông không được phổ biến về Dự án chi tiết tỷ lệ 1/500 Công viên dọc suối Cần Đăng, trong Quyết định 4474 cũng không có Công viên suối Cần Đăng; Giá bồi thường đất quá thấp so với giá thị trường và không công bằng giữa các hộ dân trong việc đền bù. Ủy ban nhân dân huyện cho rằng thực hiện dự án đúng trình tự quy định của pháp luật nhưng lại không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Ngoài các văn bản ông đã trình bày trong đơn khiếu nại thì ông không được nhận hay được phổ biến thêm bất kỳ thông tin nào. Việc thực hiện dự án gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của ông, với lại công trình Bờ kè chống sạt lở là không cần thiết vì phải thu hồi diện tích đất quá lớn và chi phí bồi thường quá thấp.

Ông Nguyễn Minh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Công văn số 510/UBND-TTPTQĐ ngày 21/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T; hủy Quyết định số 4474/QĐ-UBND ngày 30/12/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T; Trả lại toàn bộ diện tích thu hồi vượt mức là 342 m2, ước tính giá trị phần đất là 4.750.000.000 đồng; Tính lại giá trị bồi thường phần diện tích thu hồi 380 m2 là 4.750.000.000 đồng và phải công bố toàn bộ văn bản về Dự án xây dựng Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng.

Tại Văn bản ý kiến số 1624/UBND-TTPTQĐ ngày 14/7/2023 và lời trình bày tiếp theo của người đại diện hợp pháp của người bị kiện, Ủy ban nhân dân huyện T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T là dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư. Phần đất 385,2 m2 của ông T nằm trong Dự án này.

Quyết định số 4474 thu hồi 385,2 m2 đất của ông T để thực hiện dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng được ban hành trên cơ sở căn cứ vào Khoản 3 Điều 61 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 18/2019/NQ-HĐND ngày 06/12/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh về thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020; Nghị quyết số 06/2020/NQ-HĐND ngày 31/7/2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh về thay đổi quy mô, địa điểm và số lượng dự án, công trình trong cùng một loại đất trong điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Tây Ninh và chấp thuận bổ sung danh mục dự án cần thu hồi đất năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (bổ sung thêm); Quyết định số 792/QĐ-UBND ngày 17/4/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện T; Quyết định số 1528/QĐ-UBND ngày 17/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T; Quyết định số 1641/QĐ-UBND ngày 31/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T; Quyết định số 2867/QĐ-UBND ngày 23/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của huyện T; Quyết định số 4461/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T.

Ngoài ra, ông Nguyễn Văn L (là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh T) đã ký nhận đầy đủ tiền bồi thường theo Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T.

Căn cứ vào Điều 6 Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 của Thanh tra Chính phủ về Quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh thì thấy đơn của ông Nguyễn Minh T có nội dung không phải là khiếu nại mà là kiến nghị, nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T đã ban hành Công văn số 510/UBND-TTPTQĐ ngày 21/3/2023 (viết tắt Công văn số 510) là đúng quy định của pháp luật.

Do đó, Ủy ban nhân dân huyện T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 26/2023/HC-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào các điều: 30, 32, 115, 116, khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Minh T yêu cầu: Hủy Quyết định số 4474/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc thu hồi diện tích 385,2 m2 đất của ông Nguyễn Minh T để thực hiện dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và yêu cầu hủy Công văn số 510/UBND-TTPTQĐ ngày 21/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Nguyễn Minh T.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/9/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Ông Dương Lê T1 và ông Đoàn Anh D đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Minh T đề nghị xem xét Công văn số 510 sai về hình thức, vì ông T có đơn khiếu nại nhưng Ủy ban nhân dân huyện không giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại mà lại giải quyết theo hình thức kiến nghị. Ủy ban có thuê Công ty thẩm định giá Sao Việt khảo sát giá đất thị trường, nhưng trong hồ sơ không có Chứng thư thẩm định giá của Công ty thẩm định giá Sao Việt, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xem xét có hay không có Chứng thư thẩm định giá của Công ty thẩm định giá Sao Việt. Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xem xét làm rõ sự chênh lệch về giá đất giữa các hộ dân có đất bị thu hồi. Quyết định số 4474 thu hồi của ông T 385,2 m2 là không đúng quy định tại khoản 6 Điều 9 Nghị định số 43/2015/NĐ-CP quy định phạm vi tối đa của hành lang bảo vệ nguồn nước. Trong Dự án xây dựng bờ kè không có công viên, nhưng khi thực hiện lại có công viên là sai, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xem xét vấn đề này. Vì vậy, yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T, hủy Công văn số 510 và hủy Quyết định số 4474.

Ông Nguyễn Ngọc T2, đại diện hợp pháp của người bị kiện không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh T.

Ông Nguyễn Hoàng A và ông Nguyễn Huy G bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị xem xét đơn của ông T có nội dung kiến nghị, nên Công văn số 510 là đúng quy định của pháp luật. Việc thu hồi đất là để phục vụ lợi ích công cộng, nên giá đất bồi thường được tính theo giá đất cụ thể là đúng. Việc thẩm định giá của Công ty thẩm định giá Sao Việt không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án. Cùng một con đường nhưng vị trí đất của các hộ dân có khác nhau, nên giá đất bồi thường phải khác nhau. Việc xây dựng công viên cũng là để phục vụ an sinh xã hội. Vì vậy đề nghị bác kháng cáo của ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính; Đơn kháng cáo hợp lệ về hình thức; Về nội dung đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh T đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Ông Nguyễn Minh T khởi kiện Công văn số 510 trong thời hạn chưa quá 01 năm kể từ ngày nhận được Công văn số 510. Quyết định số 4474 là quyết định hành chính có liên quan đến đối tượng bị khởi kiện (Công văn số 510). Do đó, Bản án sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết là đúng quy định tại các điều: 30, 32, 116, 193 Luật tố tụng hành chính.

[3] Về thẩm quyền ban hành, trình tự thủ tục: Quyết định số 4474 được ban hành đúng quy định tại khoản 3 Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013. Công văn số 510 được ban hành đúng quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011 và Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương.

[4] Về nội dung:

[4.1] Dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T là dự án được Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh chấp thuận mà phải thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 thì giá đất bồi thường là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành. Việc áp giá bồi thường cho ông T đã được thực hiện đúng theo giá đất cụ thể ban hành kèm theo Quyết định số 3216/QĐ-UBND ngày 29/12/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Do đó, việc ông T yêu cầu được bồi thường về đất theo giá đất thị trường, là không có căn cứ để chấp nhận.

[4.2] Tại Trích lục bản đồ địa chính do Xí nghiệp trắc địa bản đồ 305 thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tài nguyên và Môi trường Miền Nam thể hiện ông Nguyễn Minh T đang quản lý, sử dụng diện tích 385,2 m2 thuộc Thửa đất số 15 (một phần Thửa đất số 149, 167 cũ), Tờ bản đồ số 01 (Tờ bản đồ cũ số 02) tại thị trấn T, huyện T. Do đó, việc ông T cho rằng đất của ông bị thu hồi có diện tích 722 m2 là không có căn cứ.

[4.3] Tại Biên bản thống nhất về loại đất, vị trí, khu vực, tuyến đường các thửa đất thu hồi thực hiện Dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T ngày 03/12/2020 thể hiện diện tích 385,2 m2 của ông T nằm trong tổng diện tích 121.156,8 m2 được thu hồi theo Quyết định số 1641/QĐ-UBND ngày 31/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T và Dự án này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh chấp thuận. Do đó, việc ông T cho rằng không cần thiết phải xây dựng bờ kè, công viên và không cần thiết thực hiện Dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng, là không có cơ sở.

[5] Từ các phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

[6] Do không được chấp nhận kháng cáo nên ông T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

[7] Quyết định của bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh T; Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 26/2023/HC-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh;

Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Nguyễn Minh T yêu cầu hủy Quyết định số 4474/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc thu hồi diện tích 385,2 m2 đất của ông Nguyễn Minh T để thực hiện dự án Bờ kè chống sạt lở suối Cần Đăng chảy qua trung tâm thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và không chấp nhần yêu cầu hủy Công văn số 510/UBND-TTPTQĐ ngày 21/3/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Nguyễn Minh T.

3. Ông Nguyễn Minh T phải nộp án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0000040 ngày 14/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;

4. Quyết định của bản án sơ thẩm về án phí hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

82
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai số 1084/2023/HC-PT

Số hiệu:1084/2023/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành: 28/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về