Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính số 560/2025/HC-PT ngày 12/05/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 560/2025/HC-PT NGÀY 12/05/2025 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 209/2025/TLPT-HC ngày 05 tháng 3 năm 2025, về “Khiếu kiện quyết định hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 551/2024/HC-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1473/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

-Người khởi kiện: Ông Lê Văn X (có mặt);

Địa chỉ: x đường x, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị kiện:

1/ Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh;

2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ: Số x đường T, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (người bị kiện xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hoàng Văn H, ông Trương Văn T, bà Nguyễn Thị Lan P (ông H, ông T và bà P đều có mặt).

- Người kháng cáo: Ông Lê Văn X.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện trình bày:

UBND Phường Long Bình, thành phố Thủ Đức có Văn bản số 32/UBND ngày 15/01/2024 và Văn bản số 115/UBND ngày 06/03/2024 về nguồn gốc diện tích sử dụng đất của ông Lê Văn X đối với phần đất: 518,3 m2 và 19,8 m2 như sau:

- Đối với phần diện tích 518,3 m2:

+ Theo Tài liệu 299/TTg năm 1985: Mục đích sử dụng đất tại một phần thửa số 128, tờ bản đồ số 03 ghi tên ông Lê Văn T, loại đất “2L” và 1 phần là rạch.

+ Theo Tài liệu bản đồ chỉnh lý ảnh năm 1995; thuộc một phần các thửa: Thửa 69 (DT 14,7 m2) do ông Trương Văn Cắt đứng tên, loại đất HGđB/K. Thửa 71 (DT 12,5 m2) do ông Lê Văn T đứng tên, loại đất L, thửa 85 (DT 92,8 m2 ghi đất công).

+ Thửa 86 (DT: 386,6 m2) do ông Lê Văn T đứng tên, loại đất L và rạch

(DT: 14,7m2), tờ bản đồ số 16.

- Đối với diện tích 19,8m2:

+ Theo bản đồ chỉnh lý ảnh năm 1995 phần diện tích 19,8 m2 thuộc một phần thửa số 85 (DT 14,6m2) và diện tích 5,2 m2 tờ bản đồ số 16 (Hai văn bản này đề nghị Quý tòa yêu cầu UBND TP. Thủ Đức cung cấp).

Theo tài liệu trên, theo tôi được biết đất này trước đây là của ông Lê Văn T canh tác lâu đời do cha mẹ để lại. Sau này, ông chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị V tiếp tục canh tác và được cấp Giấy chứng nhận số H01384/2680 ngày 18/09/2009. Đến tháng 08/2019, bà V chuyển nhượng cho ông Phạm Quốc A sử dụng, đến tháng 5/2020 ông A chuyển nhượng cho ông Lê Văn X sử dụng cho đến nay.

Tổng số diện tích mà nhà nước thu hồi là 873,2 m2, thửa 306 tờ bản đồ 80 (BĐĐC đo đạc 2003).

Trong quá trình ông X quản lý sử dụng đất, không bị xử lý hành chính về xây dựng đất đai, có ranh giới rõ ràng, không có tranh chấp khiếu nại với hộ gia đình cá nhân nào, được Khu phố Bến Đò và UBND phường Long Bình xác nhận nhưng Ủy ban nhân dân Thủ Đức không bồi thường, hỗ trợ phần diện tích 518,3m2 và 19,8m2 là không đúng quy định.

Do đó, ông X yêu cầu bồi thường, hỗ trợ diện tích 518,3m2 và 19,8m2 với đơn giá 6.950.000 đồng theo phương án số 185/LB-PABT và yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Hủy Quyết định số 14268/QĐ-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với ông Lê Văn X;

+ Hủy Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn X (lần đầu).

Người bị kiện Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức có ý kiến trình bày tại Văn bản số 12664/UBND- BBT ngày 23/12/2024:

Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ:

Phần đất giải tỏa thuộc một phần thửa số 02, 306 và rạch, tờ bản đồ số 80 (Theo Tài liệu năm 2003), Bộ địa chính phường Long Bình, thành phố Thủ Đức tương ứng thuộc một phần thửa số 69, 71, 85, 86 và rạch, tờ Bản đồ số 16 (theo Tài liệu 02/CT-UB), xã Long Bình, huyện Thủ Đức nằm trong ranh giải tỏa Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh.

Diện tích thu hồi: 873,2m². Hiện trạng giải tỏa: một phần.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023, Ủy ban nhân dân phường Long Bình có Giấy xác nhận pháp lý nguồn gốc nhà, đất số 87/GXN-UBND với nội dung:

“Nguồn gốc, tình trạng sử dụng nhà đất:

Về nguồn gốc đất:

-Phần đất trồng cây lâu năm diện tích 335,1 m2 thuộc một phần thửa 306 tờ bản đồ số 80 đã được Ủy ban nhân dân Quận 9 cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 188712 ngày 18 tháng 9 năm 2009 cho bà Nguyễn Thị V. Năm 2019, bà V sang nhượng cho ông Phạm Quốc A và được Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh Quận 9 xác nhận ngày 08 tháng 08 năm 2019. Năm 2020, ông Phạm Quốc A chuyển nhượng cho Lê Văn X và đã được Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh Quận 9 xác nhận ngày 26 tháng 5 năm 2020.

-Phần diện tích 19,8 m2 thuộc một phần thửa 2 tờ bản đồ số 80 loại đất bằng chưa sử dụng (do Ủy ban nhân dân phường Long Bình đứng tên Tài liệu năm 2003) và một phần rạch diện tích 518,3 m2 là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý thời điểm chiếm dụng sau ngày 26 tháng 5 năm 2020.

Phần vật kiến trúc:

(1) Vách tole, mái tole, cột BTCT, sàn đúc giả (sàn trên ao) diện tích 62,6 m2; (4) cầu gỗ trụ BTCT, sàn gỗ diện tích 27,7 m2; Hàng rào cột thép ống, lưới B40: xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2006 (vật kiến trúc không có thể hiện trên Tài liệu bản đồ năm 2003).

Hiện trạng đất do ông Lê Văn X sử dụng.

Về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, đất đai: Không.

Về tranh chấp, lấn chiếm: Phần diện tích 19,8 m2 thuộc một phần thửa 02 tờ Bản đồ số 80 (do Ủy ban nhân dân phường Long Bình đứng tên tài liệu 2003) và một phần rạch diện tích 518,3 m2 là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý; Hiện tại không có tranh chấp, khiếu nại với hộ gia đình, cá nhân nào./.”.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 14165/QĐ-UBND về thu hồi đất để thực hiện dự án Thành phần số 2: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc địa bàn thành phố Thủ Đức). Tại Điều 1 nêu: “Thu hồi phần đất diện tích 873,2m2 của ông (bà) Lê Văn X, địa chỉ: 101, Trần Quốc Toản, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí thuộc một phần thửa số 02, 306 và rạch, tờ bản đồ số 80 (Theo Tài liệu năm 2003), Bộ địa chính phường Long Bình, thành phố Thủ Đức xác định tại Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH Dịch vụ Đo đạc và Tin học Long Phúc Kiên lập ngày 02 tháng 3 năm 2023 và được Ủy ban nhân dân phường Long Bình xác nhận ngày 07 tháng 3 năm 2023.”.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 14268/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông (bà) Lê Văn X trong dự án Thành phần số 2: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc địa bàn thành phố Thủ Đức). (Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 185.LB/PABT-HĐBT ngày 03 tháng 11 năm 2023). Ngày 13 tháng 12 năm 2023, hộ ông Lê Văn X đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ.

Tại Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 185.LB/PABT-HĐBT ngày 03 tháng 11 năm 2023, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án lập Bảng chiết tính đối với hộ ông (bà) Lê Văn X. Trong đó:

1.Bồi thường, hỗ trợ về đất:

1.1.Bồi thường, hỗ trợ về đất:

-Đất trồng cây lâu năm vị trí 2 Nguyễn Xiển (đất được cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất): 335,1m2 x 6.950.000đồng/m2 = 2.328.945.000 đồng.

-Đất rạch (không bồi thường, hỗ trợ, chiếm dụng sau ngày 26/5/2020): 518,3m2.

-Đất bằng chưa sử dụng (không bồi thường, hỗ trợ, chiếm dụng sau ngày 26/5/2020): 19,8m2.

1.2.Số tiền phải trừ nghĩa vụ tài chính: Không có.

1.3.Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: Không có.

Giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất theo Phương án số 185.LB/PABT-HĐBT ngày 03/11/2023: 2.328.945.000đồng.

2.Bồi thường, hỗ trợ về công trình, cấu trúc xây dựng trên đất:

2.1.Nhà ở - vách tôn, mái tôn, cột BTCT (không bồi thường, hỗ trợ xây dựng sau ngày 01/7/2006): 62,6m2.

2.2.Cầu gỗ trên rạch: sàn gỗ, trụ BTCT (không bồi thường, hỗ trợ xây dựng sau ngày 01/7/2006): 27,7m2.

2.3.Hàng rào: cột ống thép, lưới B40 (không bồi thường, hỗ trợ xây dựng sau ngày 01/7/2006): 7,2m2.

3.Bồi thường tài sản khác: cây trồng, đồng hồ điện, nước, giếng khoan:

-Cây trồng, hoa màu: 23.869.750 đồng.

-Tài sản khác: Không có.

4.Các khoản hỗ trợ khác: Không có.

5.Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ: 2.352.814.750đồng.

6.Bố trí tái định cư: Không đủ điều kiện tái định cư.

Ngày 20 tháng 02 năm 2024, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 2625/QĐ-UBND về hỗ trợ thêm cho ông (bà) Lê Văn X do chấp hành tốt việc bàn giao mặt bằng. Ngày 23 tháng 02 năm 2024, hộ ông Lê Văn X đã nhận tiền hỗ trợ.

Ngày 18 tháng 3 năm 2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 3655/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn X (lần đầu). Tại Điều 1 nêu: “Giữ nguyên Quyết định số 14268/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông (bà) Lê Văn X trong dự án Thành phần số 2: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc địa bàn thành phố Thủ Đức)”.

Điều 2: Việc ông Lê Văn X khiếu nại yêu cầu hỗ trợ phần đất diện tích 518,3m2 và diện tích 19,8m2 với đơn giá 3.500.000 đồng/m2 là không có cơ sở xem xét giải quyết.”

Về căn cứ pháp lý áp dụng chính sách đối với người dân có nhà, đất nằm trong phạm vi dự án:

Quyết định số 4269/QĐ-UBND ngày 06/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn thành phố Thủ Đức.

Quyết định số 4543/QĐ-UBND ngày 05/10/2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn thành phố Thủ Đức.

Quyết định số 13659/QĐ-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức về phê duyệt Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn thành phố Thủ Đức (Chính sách số 613/CSBT-HĐBT ngày 03/11/2023 do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án lập).

Quyết định số 13660/QĐ-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức về phê duyệt Phương án hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người lao động bị thu hồi đất thực hiện Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn thành phố Thủ Đức (Chính sách số 614/CSBT-HĐBT ngày 03/11/2023 do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án lập).

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 14165/QĐ-UBND về thu hồi đất để thực hiện dự án Thành phần số 2: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc địa bàn thành phố Thủ Đức).

Về nội dung yêu cầu của người khởi kiện:

Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 14268/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức và Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn X là không có cơ sở, bởi lẽ:

Phần đất bị thu hồi diện tích 873,2m² thuộc một phần thửa số 02, 306 và rạch, tờ bản đồ số 80 (Theo Tài liệu năm 2003), Bộ địa chính phường Long Bình, thành phố Thủ Đức tương ứng thuộc một phần thửa số 69, 71, 85, 86 và rạch, tờ Bản đồ số 16 (theo Tài liệu 02/CT-UB), xã Long Bình, huyện Thủ Đức. Trong đó:

-Đối với phần đất diện tích 19,8 m2: thuộc một phần thửa 2 tờ bản đồ số 80 loại đất bằng chưa sử dụng (do Ủy ban nhân dân phường Long Bình đứng tên Tài liệu năm 2003).

-Đối với một phần đất rạch diện tích 518,3 m2: là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý thời điểm chiếm dụng sau ngày 26 tháng 5 năm 2020.

Từ những cơ sở pháp lý nêu trên:

Căn cứ tiết b, điểm 19.7 Khoản 19 Mục I Phần B của Chính sách số 613/CSBT-HĐBT ngày 03/11/2023 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án được phê duyệt tại Quyết định số 13659/QĐ-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức quy định:

“19. Hỗ trợ đối với trường hợp không đủ điều kiện bồi thường về đất (Thực hiện theo Điều 11 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 28/2018/QĐ- UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh): 19.7. Xử lý đối với phần diện tích đất trong lộ giới; hành lang bảo vệ đê điều, sông, rạch và các công trình công cộng:

b) Trường hợp nhà, đất thuộc hành lang bảo vệ đê điều, sông, rạch và các công trình công cộng mà trước đây thuộc sở hữu Nhà nước không bán hóa giá hoặc xét công nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở thì không xét bồi thường, hỗ trợ.

Do phần đất diện tích 538,1m2 là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý thời điểm chiếm dụng sau ngày 26 tháng 5 năm 2020 và đất do Ủy ban nhân dân phường Long Bình đứng tên Tài liệu năm 2003, vì vậy căn cứ quy định trên không bồi thường.

Từ những căn cứ quy định trên, việc ban hành các Quyết định số 14268/QĐ- UBND ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức và Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức đối với hộ ông Lê Văn X là đúng theo trình tự, thủ tục, chính sách và phù hợp theo quy định của pháp luật. Người bị kiện vẫn giữ nguyên các Quyết định bị kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 551/2024/HC-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ các Khoản 1 Điều 30; Khoản 4 Điều 32; Điều 116; Điều 143; Điều 158; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Luật Khiếu nại 2011 ngày 11 tháng 11 năm 2011; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn X về yêu cầu:

+ Hủy Quyết định số 14268/QĐ-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với ông Lê Văn X;

+ Hủy Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn X (lần đầu).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30/12/2024, ông Lê Văn X kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo, cụ thể không kháng cáo về phần thủ tục tố tụng của bản án sơ thẩm. Bản án sơ thẩm tuyên án dựa vào lời trình bày của UBND phường Long Bình khai nhận việc kê khai đăng ký vào năm 2003 là không đúng. ông X nhận chuyển nhượng từ ông A năm 2020 (Ông A nhận chuyển nhượng từ bà V vào năm 2019) và sử dụng ổn định. Chủ tịch UBND thành phố Thủ Đức ban hành Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 về việc không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông X là không có căn cứ vì đất này là đất khai hoang từ lâu đời và sử dụng ổn định. ông X yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 và hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố Thủ Đức là ông Trương Văn Thuận đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý, cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án thì phần diện tích 518,3m2 là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý (UBND phường Long Bình), không thuộc diện tích ông Lê Văn X nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Quốc A ngày 26/5/2020. ông X lấn chiếm sử dụng đối với phần đất này từ năm 2020 nên ông X yêu cầu bồi thường phần đất này là không có cơ sở chấp nhận. Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức không chấp nhận bồi thường cho ông X là có căn cứ. Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức không chấp nhận khiếu nại của ông X là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, người khởi kiện không xuất trình được chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Văn X là hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, căn cứ ban hành Quyết định hành chính bị khởi kiện gồm Quyết định số 14268/QĐ-UBND ngày 03/11/2023, Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 là đúng theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013; Luật khiếu nại năm 2011.

[2.2]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn X:

Phần đất giải tỏa thuộc một phần thửa số 02, 306 và rạch, tờ bản đồ số 80 (Theo Tài liệu năm 2003), Bộ địa chính phường Long Bình, thành phố Thủ Đức; tương ứng, thuộc một phần thửa số 69, 71, 85, 86 và rạch, tờ Bản đồ số 16 (theo Tài liệu 02/CT-UB), xã Long Bình, huyện Thủ Đức nằm trong ranh giải tỏa Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh.

Diện tích thu hồi: 873,2m². Hiện trạng giải tỏa: một phần.

Ngày 23/3/2023, Ủy ban nhân dân phường Long Bình có Giấy xác nhận pháp lý nguồn gốc nhà, đất số 87/GXN-UBND với nội dung phần diện tích 19,8m2 (do Ủy ban nhân dân phường Long Bình đứng tên Tài liệu năm 2003) và một phần rạch diện tích 518,3m2 là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý.

Phần đất trồng cây lâu năm diện tích 335,1m2 thuộc một phần thửa 306 tờ bản đồ số 80 đã được Ủy ban nhân dân Quận 9 cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 188712 ngày 18/9/2009 cho bà Nguyễn Thị V, sang nhượng cho ông Phạm Quốc A vào năm 2019. Năm 2020, ông Phạm Quốc A chuyển nhượng cho Lê Văn X và đã được Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh Quận 9 xác nhận ngày 26/5/2020.

Ngoài ra, Ủy ban nhân dân phường Long Bình có ban hành Văn bản số 32/UBND ngày 15/01/2024 và số 115/UBND ngày 06/03/2024 xác nhận nguồn gốc pháp lý đất của ông X, nội dung tại 02 văn bản này không mâu thuẫn với Giấy xác nhận pháp lý nguồn gốc nhà, đất số 87/GXN-UBND ngày 23/3/2023.

Ông Lê Văn X yêu cầu bồi thường phần diện tích 518,3m2 và 19,8m2 theo đơn giá đất trồng cây lâu năm - vị trí 2 với giá 6.950.000 đồng/m2 là không có căn cứ do phần diện tích này là đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý, không thuộc diện tích ông Lê Văn X nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Quốc A ngày 26/5/2020. Ông Lê Văn X không cung cấp được chứng cứ chứng minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất hợp pháp của bà Nguyễn Thị V, ông Phạm Quốc A và ông Lê Văn X đối với phần đất này nên ông X yêu cầu bồi thường phần đất này là không có cơ sở chấp nhận.

Về nội dung của Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức không chấp nhận khiếu nại của ông X là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, phía người khởi kiện không xuất trình được chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn X.

[3]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa được chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Văn X được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;

Điều 32, Điều 33, Điều 34 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1.Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn X.

2.Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 551/2024/HC-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

3.Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn X về yêu cầu:

+ Hủy Quyết định số 14268/QĐ-UBND ngày 03/11/2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đối với ông Lê Văn X;

+ Hủy Quyết định số 3655/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức về giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn X (lần đầu).

4.Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5.Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Văn X được miễn. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

31
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính số 560/2025/HC-PT ngày 12/05/2025

Số hiệu:560/2025/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành:12/05/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về