Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 258/2022/HC-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 258/2022/HC-PT NGÀY 04/07/2022 VỀ KHIU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hành chính thụ lý số 412/2022/TLPT-HC ngày 13 tháng 10 năm 2021, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2021/HC-ST ngày 05 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh LC.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5545/2022/QĐ-PT ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, vụ án có các đương sự sau:

* Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T; địa chỉ: Tổ 3, phường PSP, thị xã SP, tỉnh LC; Bà T và ông T đều vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị D; địa chỉ: Số nhà 356 đường HL, tổ 14 phường KT, thành phố LC, tỉnh LC; có mặt.

* Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân (UBND) thị xã SP, tỉnh LC.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vương Trinh Q – Chủ tịch UBND thị xã SP.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tiến D – Phó Chủ tịch Chủ tịch UBND thị xã SP; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND phường PSP, thị xã SP, tỉnh LC.

Người đai diện theo pháp luật: Ông Trần Đức V – Chủ tịch; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo người khởi kiện và người đại diện của người khởi kiện trình bày:

Ngày 12/02/2004, bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Lồ Thị Nghị diện tích 200m2 đất tại tổ 09 thị trấn SP, huyện SP (nay là tổ 02, phường PSP, thị xã SP), tỉnh LC. Trên đất có một ngôi nhà xây cấp VI diện tích khoảng 80m2 do ông Tuấn bà nghị làm từ trước, việc chuyển nhượng do hai bên làm văn bản không có công chứn g, chứng thực. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T bà T đã chuyển về ngôi nhà trên để sinh sống ổn định từ tháng 02/2004 đến nay, trong quá trình sử dụng đất, bà T và ông T đã sử dụng đất đúng mục đích, không vi phạm Luật đất đai, không bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xây dựng nhà trái phép.

Ngày 28/11/2020, bà T nhận được Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC về việc thu hồi đất và Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC về việc Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Ông T và bà T không đồng ý với hai quyết định nêu trên với lý do sau:

Thứ nhất, quyết định thu hồi đất xác định diện tích 200,2m2 đất của hộ gia đình bà T là đất trồng cây hàng năm là không đúng vì trên đất có 01 ngôi nhà diện tích 80m2, đây là chỗ ở của gia đình bà T từ năm 2004, diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ nên phải xác định là đất ở; UBND thị xã SP không bồi thường cho gia đình bà T về đất ở và không cấp đất tái định cư cho gia đình bà là trái quy định của pháp luật.

Thứ hai, UBND thị xã SP xác định ngôi nhà gỗ là tài sản tạo lập sau thời điểm công bố quy hoạch nên không bồi thường là không có căn cứ vì Nhà nước công bố quy hoạch năm 2016 trong khi bà T nhận chuyển nhượng của ông Tuấn từ tháng 02/2004 đã có nhà trên đất.

Thứ ba, ngoài diện tích đất làm nhà thì diện tích đất còn lại của hộ bà T là đất nông nghiệp trồng cây hàng năm. UBND thị xã SP bồi thường cho hộ bà T theo giá đất năm 2020, thấp bằng ½ so với giá đất năm 2019 là không phù hợp, vi phạm khoản 3 Điều 74 Luật đất đai, trong khi nhiều hộ gia đình khác được bồi thường, hỗ trợ cao hơn.

Ngày 03/3/2021, ông Chu Văn T và bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án:

Hủy Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC về việc thu hồi đất.

Hủy một phần Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC về việc Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án;

Buộc UBND thị xã SP, tỉnh LC xác định đất của hộ bà T là đất ở và thực hiện việc bồi thường về đất ở, cấp đất tái định cư, hỗ trợ di chuyển chỗ ở cho hộ gia đình bà T theo quy định của pháp luật.

Theo người bị kiện UBND thị xã SP trình bày:

Dự án khu trung tâm hành chính mới huyện SP được UBND tỉnh LC phê duyệt quy hoạch chi tiết tại Quyết định số 4289/QĐ-UBND ngày 30/11/2016. Toàn bộ diện tích đất của hộ bà T nằm trong quy hoạch của dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP; ngày 08/5/2017, UBND huyện SP (nay là UBND thị xã SP) ban hành Thông báo số 103/TB-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà T. Ngày 05/6/2020, Trung tâm phát triển quỹ đất đã chủ trì phối hợp với hộ bà T và các đơn vị liên quan tiến hành kiểm kê đất, tài sản, hoa màu trên đất bị thu hồi của hộ bà T. Sau khi thực hiện thủ tục niêm yết công khai và lấy ý kiến về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; ngày 27/11/2020, UBND thị xã SP đã ban hành Quyết định số 1000/QĐ-UBND và Quyết định số 1007/QĐ- UBND về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ bà T. Đồng thời Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã SP đã mời bà T đến để chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ (tuy nhiên bà T không nhận tiền) và niêm yết công khai Quyết định thu hồi, Quyết định bồi thường theo quy định.

Đối với hạng mục “Nhà gỗ nền láng xi măng, mái lợp proximang, tường lịa ván, diện tích 22,75m2” đã thống kê tại Biên bản ngày 05/6/2020, sau khi xem xét Báo cáo số 138/BC-UBND ngày 01/6/2021 của UBND phường PSP, thị xã SP xác định lại thời điểm dựng nhà sau năm 2012 và không lập biên bản vi phạm hành chính. UBND thị xã SP đã phê duyệt bổ sung tài sản cho hộ bà T tại Quyết định số 436/QĐ-UBND ngày 08/7/2021.

Về việc xác định loại đất thu hồi: Hộ bà T sử dụng đất nhưng không có giấy tờ về đất theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b, Mục 1, khoản 1, Điều 2 Nghị định số 01/2017 /NĐ-CP ngày 06/01/2017 “b) Trường hợp đang sử dụng đất, do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì căn cứ vào nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất để xác định loại đất”. Hiện trạng sử dụng của bà T là đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm khác). Tại Biên bản kiểm đếm số lượng đất đai, tài sản, hoa màu tại thực địa ngày 05/6/2020 bà T cùng các thành phần tham gia đã ký xác nhận là đất trồng cây hàng năm khác nên xác định loại đất bị thu hồi là đất trồng cây hàng năm khác. Do hộ bà T không bị thu hồi đất ở, hộ bà T có hộ khẩu tại tổ 11b, thị trấn SP (nay là tổ 3, phường PSP). Hộ bà T có nhà ở ổn định sinh sống và cư trú thường xuyên, liên tục trên thửa đất số 163, tờ bản đồ số DC61 tại tổ 3, phường PSP, thị xã SP từ thời điểm nhập khẩu đến nay. Do hộ bà T không thường xuyên sinh sống và không sử dụng ổn định vào mục đích đất ở trên diện tích thửa đất 200,2m2 bị thu hồi, không phải di chuyển chỗ ở nên UBND thị xã SP, tỉnh LC không bồi thường về đất ở và không giao đất tái định cư cho bà T là đúng quy định.

Như vậy, UBND thị xã SP căn cứ các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành để thu hồi, bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, hoa màu của hộ bà T là đúng quy định pháp luật. Việc hộ bà T yêu cầu hủy Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 và một phần Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh LC bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường PSP trình bày:

Hộ bà Nguyễn Thị T bị thu hồi 200,2m2 đất tại Quyết định số 1000/QĐ- UBND ngày 27/11/2020 và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP để thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP.

Về nguồn gốc thửa đất: Bà T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Minh Tuấn năm 2004 theo Biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 12/02/2004 và trên cơ sở lấy ý kiến của khu dân cư ngày 12/8/2020.

Về thời điểm sử dụng thửa đất: Bà T bắt đầu sử dụng từ năm 2004.

Về loại đất sử dụng: Theo hiện trạng sử dụng và bản đồ đo đạc địa chính thị trấn SP năm 2018 đã đo đạc nghiệm thu loại đất sử dụng của bà T là đất trồng cây hàng năm khác.

Thời điểm làm nhà, loại nhà: UBND phường PSP, thị xã SP xác định hộ bà T dựng nhà sau thời điểm năm 2012, không ở, sinh sống tại nhà trên (tại thời điểm kiểm đếm có một số học sinh thuê ở trọ và hiện nay không có người ở). UBND phường PSP, thị xã SP đã có Báo cáo số 138/BC-UBND ngày 01/6/2021 về nội dung trên.

Về tình trạng cư trú: Gia đình bà T nhập khẩu tại tổ 11b, thị trấn SP (nay là tổ 2, phường PSP) từ năm 2012 đến năm 2020 đính chính sang tổ 3, phường PSP cho đến nay. Bà T có nhà ở ổn định sinh sống và cư trú thường xuyên tại Tổ 3, phường PSP từ thời điểm nhập khẩu đến nay. UBND phường PSP đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2021/HC-ST ngày 05/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh LC, quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện sau đây của bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T: Bác yêu cầu hủy Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC về việc thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án: Đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP.

Bác yêu cầu hủy một phần Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC về việc Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án: Đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP.

Bác yêu cầu buộc UBND thị xã SP, tỉnh LC xác định đất của hộ bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T là đất ở và thực hiện việc bồi thường về đất ở, cấp đất tái định cư, hỗ trợ di chuyển chỗ ở cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/8/2021, bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo ủy quyền của những người khởi kiện có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo; sửa quyết định của bản án sơ thẩm, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của bà T và ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến của người được ủy quyền của người khởi kiện; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ngày 03/3/2021, bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 thu hồi đất; hủy một phần Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định liên quan đến hộ gia đình bà T và ông T của UBND thị xã SP; yêu cầu buộc UBND thị xã SP xác định đất của hộ bà T và ông T là đất ở và thực hiện việc bồi thường về đất ở, cấp đất tái định cư, hỗ trợ di chuyển chỗ ở cho hộ gia đình bà T và ông T. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh LC thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 30; Điều 32; Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[2]. Xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị khiếu kiện:

[2.1]. Đối với Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP về việc thu hồi đất:

Về thẩm quyền ban hành: UBND thị xã SP ban hành Quyết định số 1000/QĐ-UBND thu hồi đất đối với hộ gia đình bà T là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật đất đai 2013.

Về trình tự, thủ tục ban hành: Ngày 30/11/2016, UBND tỉnh LC ban hành Quyết định số 4289/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu trung tâm hành chính mới huyện SP. Ngày 10/02/2017, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh LC có Văn bản số 06/HĐND-TT về việc nhất trí thỏa thuận dự án: Khu trung tâm hành chính mới tại thị trấn SP, huyện SP.

Ngày 24/3/2017, UBND tỉnh LC ban hành Văn bản số 1222/UBND-TNMT về việc ủy quyền cho UBND huyện SP, tỉnh LC thực hiện thu hồi đất để thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP.

Ngày 08/5/2017, UBND huyện SP ban hành Thông báo số 103/TB-UBND về việc thu hồi đất của hộ bà T để thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP. Ngày 03/3/2020, bàn giao thông báo thu hồi đất cho hộ bà T.

Ngày 31/10/2018, UBND tỉnh LC ban hành Quyết định số 3506/QĐ-UBND phê duyệt dự án: Đền bù, giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP.

Ngày 05/6/2020, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng tiến hành kiểm đếm số lượng đất đai, tài sản, hoa màu trên đất bị thu hồi của hộ bà T.

Ngày 10/6/2020, UBND tỉnh LC ban hành Quyết định số 1704/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của thị xã SP (trong đó có dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP).

Từ ngày 18/8/2020 đến ngày 07/9/2020, tiến hành niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của hộ bà T tại UBND phường PSP và địa điểm sinh hoạt của tổ dân phố số 2, phường PSP, thị xã SP, tỉnh LC.

Ngày 25/8/2020, Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã SP tiến hành họp lấy ý kiến trực tiếp về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các hộ gia đình (bà T vắng mặt không tham dự).

Ngày 21/10/2020, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP đã họp xét duyệt tư cách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Ngày 27/11/2020, UBND thị xã SP ban hành Quyết định số 1000/QĐ-UBND về việc thu hồi 200,2m2 đất trồng cây hàng năm khác của hộ bà T thuộc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 89 tại tổ 2, phường PSP, thị xã SP; chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích nêu trên để thực hiện dự án Khu trung tâm hành chính mới huyện SP. Như vậy, trình tự, thủ tục ban hành quyết định thu hồi đất đảm bảo đúng quy định tại Điều 69 Luật đất đai 2013.

Về nội dung quyết định: Theo Biên bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 12/02/2004 giữa bên chuyển nhượng đất là vợ chồng ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Lồ Thị Nghị với bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị T, thể hiện ông Tuấn và bà Nghị chuyển nhượng cho bà T 01 lô đất với diện tích khoảng 200m2, đất đã có nhà. Theo bản đồ Quy chế đô thị SP năm 2012 ban hành theo Quyết định số 1584/QĐ-UBND ngày 28/6/2012 của UBND tỉnh LC thể hiện diện tích đất của hộ gia đình bà T bị thu hồi là đất trống, không có nhà trên đất; bản đồ địa chính thị trấn SP năm 2018 cũng thể hiện đất của hộ gia đình bà T là đất trồng cây hàng năm khác, khi kiểm kê bà T ký xác nhận là đất trồng cây hàng năm khác.

Tại Biên bản về việc xác minh nhà ở, tình trạng cư trú của bà T, tổ 11b thị trấn SP (đính chính HKTT tổ 3, phường PSP) ngày 31/5/2021 đối với các đại diện tổ dân phố số 2, số 3 và số 4 thể hiện: Bà Nguyễn Thị T từ năm 2012 đến cuối năm 2019 có hộ khẩu thường trú tại tổ 11b, thị trấn SP, huyện SP. Đến tháng 6/2020 tách phường đính chính đăng ký thường trú sang tổ 3, phường PSP, thị xã SP. Tại vị trí đất thu hồi tổ 9c (nay là tổ 2, phường PSP), bà Nguyễn Thị T không có hộ khẩu thường trú, không sinh sống, không tham gia đóng góp các loại quỹ tại tổ 9c (nay là tổ 2, phường PSP). Từ năm 2012 đến cuối năm 2019 bà Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú, cư trú thường xuyên tại số nhà 01, ngõ 86, đường Nguyễn Chí Thanh, tham gia các hoạt động và đóng góp đầy đủ các loại quỹ tại tổ 11b, thị trấn SP. Từ năm 2020 bà Nguyễn Thị T đính chính sổ hộ khẩu từ tổ 11b sang tổ 3, phường PSP, hiện đang sinh sống ổn định tại vị trí ngôi nhà 02 tầng, ngõ Đền Thượng, tổ 03, phường PSP (đối diện nhà ông Thiện, bà Chín) thửa đất số 163, tờ bản đồ số DC61. Tham gia các hoạt động và đóng góp đầy đủ các loại quỹ tại tổ dân phố số 03.

Như vậy, sau khi nhận chuyển nhượng đất bà T không thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; có căn cứ xác định hộ bà T không sử dụng đất ổn định, không sử dụng nhà vào mục đích ở, nên không đủ điều kiện được công nhận là đất ở. Vì vậy, UBND thị xã SP xác định 200,2m2 đất bị thu hồi của hộ gia đình bà T là đất trồng cây hàng năm là đúng quy định. Quyết định thu hồi đất số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 được ban hành đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, có căn cứ pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu hủy Quyết định số 1000/QĐ-UBND là có căn cứ.

[2.1]. Đối với Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 của UBND thị xã SP, tỉnh LC phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:

Về thẩm quyền ban hành: UBND thị xã SP ban hành Quyết định số 1007/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật đất đai.

Về trình tự, thủ tục ban hành: Ngày 27/11/2020, UBND thị xã SP, tỉnh LC ban hành Quyết định thu hồi đất số 1000/QĐ-UBND, đồng thời ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư số 1007/QĐ-UBND là đúng trình tự quy định tại Điều 69 Luật đất đai. Sau khi ban hành Quyết định số 1007/QĐ-UBND đã được niêm yết công khai và bàn giao cho bà T tại Biên bản ngày 04/12/2020.

Hộ gia đình bà T bị thu hồi diện tích 200,2m2 đất trồng cây hàng năm; được bồi thường về đất, hoa màu trên đất và tài sản trên đất với tổng cộng số tiền là 26.927.172 đồng là đúng theo quy định tại Quyết định số 56/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh LC quy định về bảng giá đất 05 năm 2020 – 2024 và Quyết định số 1028/2020/QĐ-UBND ngày 14/4/2020 của UBND tỉnh LC về phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để bồi thường và giá đất cụ thể để giao đất tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại các huyện, thành phố; Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 25/4/2015 của UBND tỉnh LC, về việc ban hành Quy định áp dụng đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi và thủy sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh LC; Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 21/4/2016 của UBND tỉnh LC, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của bản quy định áp dụng đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, vật nuôi và thủy sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh LC; Quyết định số 15/2021/QĐ-UBND ngày 19/3/2021 của UBND tỉnh LC, về việc ban hành Quy định áp dụng đơn giá bồi thường thiệt hại về nhà, công trình gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh LC.

Về chính sách hỗ trợ tái định cư: Diện tích đất của hộ gia đình bà T bị thu hồi không đủ điều kiện được công nhận là đất ở; hộ gia đình bà T không bị thu hồi đất ở, khi bị thu hồi đất không phải di chuyển chỗ ở. Hộ bà T có đất ở, nhà ở trong địa bàn phường PSP, thị xã SP, tỉnh LC. Vì vậy, không đủ điều kiện để được bồi thường về đất ở, cấp đất tái định cư, hỗ trợ di chuyển chỗ ở theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo hủy Quyết định số 1007/QĐ-UBND và yêu cầu buộc UBND thị xã SP xác định đất của hộ bà T là đất ở và thực hiện việc bồi thường về đất ở, cấp đất tái định cư, hỗ trợ di chuyển chỗ ở cho hộ gia đình bà T.

[3]. Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của bà T và ông T: Yêu cầu hủy Quyết định số 1000/QĐ-UBND ngày 27/11/2020; hủy một phần Quyết định số 1007/QĐ-UBND ngày 27/11/2020; yêu cầu buộc UBND thị xã SP, xác định đất của hộ bà T và ông T là đất ở và thực hiện việc bồi thường về đất ở, cấp đất tái định cư, hỗ trợ di chuyển chỗ ở cho hộ gia đình bà T và ông T là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T; giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2021/HC-ST ngày 05/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh LC.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T và ông Chu Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000055 ngày 24/8/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh LC.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

161
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 258/2022/HC-PT

Số hiệu:258/2022/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành: 04/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về