Bản án tranh chấp ly hôn và nuôi con chung số 78/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 78/2022/HNGĐ-ST NGÀY 31/03/2022 TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG

Ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989; cư trú tại: Ấp 8, xã Tân Th, thị xã Giá R, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Kha L, sinh năm 1987; cư trú tại: Ấp Mỹ T, xã Tạ An Kh, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Nguyễn Thị L trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:

Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Kha L chung sống năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Th, thị xã Giá R. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không được gia đình hàn gắn, đã ly thân vào năm 2018. Nay chị L xác định không thể tiếp tục chung sống cùng anh Trần Kha L nên yêu cầu được ly hôn.

Chị L và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Anh Th, sinh năm 2011, đang sống cùng chị L. Khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ: Chị L xác định không có.

* Đối với anh Trần Kha L: Mặc dù đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh L không có ý kiến gì và không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Trần Kha L đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.

[2] Về nội dung: Chị L và anh L chung sống có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã ly thân từ năm 2018. Chị Th xác định tình trạng hôn nhân của anh, chị đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và không thể hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với anh L. Anh L không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Xét yêu cầu của chị L, thấy rằng: Chị L yêu cầu ly hôn nhưng qua các lần triệu tập hòa giải, xét xử anh L đều vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh L không có thiện chí hòa giải, hàn gắn, cho thấy tình trạng hôn nhân của anh, chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L ly hôn với anh L là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu nuôi con của chị L thấy rằng: Cháu Anh Th hiện do chị L đang nuôi dưỡng, anh L không có ý kiến gì về vấn đề này. Theo biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 01/3/2022 thể hiện Anh Th có nguyện vọng sống cùng chị L. Do đó, để ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên chấp nhận yêu cầu của chị L, giao Anh Th cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Do chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh L không có ý kiến nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp về vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung và các vấn đề khác: Chị L xác định không có. Anh L không có ý kiến gì về các nội dung này nên không đặt ra xem xét; khi có phát sinh tranh chấp về các vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị L phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Trần Kha L.

- Về con chung: Giao Nguyễn Anh Th, sinh ngày 24/9/2011 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục trong nôm, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Anh Trần Kha L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011967 ngày 08 tháng 02 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (chị L đã nộp xong).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

240
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án tranh chấp ly hôn và nuôi con chung số 78/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:78/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 31/03/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về