Bản án số 38/2017/DS-ST ngày 18/10/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 38/2017/DS-ST NGÀY 18/10/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 18/10/2017 tại trụ sở tại trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đồng Xòai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2017/TLST-DS ngày 20/7/2017 về tranh chấp: “hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2017/QĐXX-ST ngày 13 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự

Nguyên đơn:  ông Nguyễn T, sinh năm 1960

Trú tại: đường Lê Quý Đôn, khu phố XL, phường TX, thị xã ĐX, BP

Bị đơn: ông Dương T, sinh năm 1985

Trú tại: tổ 2B, khu phố SĐ, phường TX thị xã ĐX, BP

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Nguyễn T trình bày:  Vào ngày 18/04/2017 tôi cho ông Dương T vay số tiền 100.000.000đồng, mục đích vay là để chi tiêu trong lúc khó khăn, thời gian vay là 01 tuần, không yêu cầu lãi suất, có có viết giấy vay tiền. Tuy nhiên đến nay ông T vẫn không trả cho tôi được khoản tiền nào, tôi có đến nhà đòi nợ nhiều lần nhưng ông T không có ở nhà.

Nay tôi yêu cầu Tòa án buộc ông Dương T phải có trách nhiệm hoàn trả cho tôi số tiền đã vay là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất.

Bị đơn ông Dương T: Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần theo quy định của luật nhưng bị đơn ông T vẫn vắng mặt không rõ lý do

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn T khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn ông Dương Th có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn T tổng số tiền đã vay là 100.000.000.000đồng, không yêu cầu lãi suất và do ông Th – là bị đơn - có hộ khẩu thường trú cũng như có nơi cư trú tại khu phố SĐ, phường TX, ĐX, BP nên đây là vụ án dân sự về tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài theo quy định tại các điều 26, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn Dương Th mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ giấy triệu tập cùng các văn bản của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Th vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vụ án theo thủ tục chung

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của ông Nguyễn T về việc chỉ buộc ông Dương Th phải trả số tiền gốc đã vay là 100.000.000đồng (vì việc mượn tiền chỉ có mình ông Th tham gia, vợ ông Th không biết và hẹn thời hạn trả chỉ trong một tuần). Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình ông T đã nộp cho Tòa án giấy mượn tiền ghi ngày 18/04/2017(bút lục số 04) có  nội dung: “…có mượn của chú Nguyễn T số tiền 100.000.000đồng(Một trăm triệu đồng chẵn). Hẹn một tuần trả” và ở góc phải của giấy mượn tiền có chữ ký, họ tên của ông Th – người mượn tiền. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ghi rõ yêu cầu của nguyên đơn trong các văn bản tố tụng của Tòa án và được niêm yết công khai tại nơi cư trú, Ủy ban nhân dân phường Tân Xuân cũng như tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài nhưng ông Th  vẫn vắng mặt, do vậy ông Th đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ cũng như không có ý kiến gì trước yêu cầu của ông T, nên căn cứ vào giấy mượn tiền cùng các chứng cứ,  tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, buộc ông Th phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông T số tiền gốc đã vay là 100.000.000đồng.

Việc vay tiền giữa ông T với ông Th có lập giấy tờ, có thỏa thuận thời hạn vay là 01 tuần, không thể hiện việc thỏa thuận về lãi suất. Như vậy, hợp đồng vay tiền giữa ông T và ông Th là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn, không có lãi suất. Hơn nữa, ông T không yêu cầu Tòa án tính lãi suất nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tiền lãi.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Th phải chịu theo luật định.

Bởi các lẽ nêu trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 điều 72, điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 463, điều 466, điều 470 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn T về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

Buộc ông Dương Th phải có trách nhiệm trả cho ông T số tiền là 100.000.000đồng(Mt trăm triệu đồng)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 648 của Bộ luật dân sự 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Dương Th phải chịu là 5.000.000đồng (Năm triệu đồng)

Hòan trả cho ông Nguyễn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp trứơc ;là 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002180 ngày 20/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đồng Xoài, Bình Phước.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


133
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án số 38/2017/DS-ST ngày 18/10/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:38/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/10/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về