Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 về ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 104/2024/HNGĐ-ST NGÀY 19/08/2024 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Trúc L, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ XX, Ấp L, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Nguyễn Minh B, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ XX, Ấp L, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

(chị Trần Thị Trúc L có đơn xin vắng mặt, anh Nguyễn Minh B vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Trúc L trình bày: Chị và anh B quen biết vào năm 2015, tìm hiểu nhau được 6 tháng thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang vào ngày 02/12/2015. Sau khi kết hôn, vợ chống sống bên nhà chồng tại xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Quá trình chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh B không lo làm ăn, chơi cờ bạc, đá gà, chị khuyên nhủ nhiều lần, đến tháng 02/2022 thì vợ chồng cùng nhau về bên nhà chị ở xã N, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, nhưng anh vẫn không thay đổi, có lời lẽ xúc phạm chị và cha mẹ chị, anh B đã bỏ đi không sống chung với chị nữa từ tháng 7/2023 cho đến nay, anh chị không có liên lạc, hàn gắn tình cảm. Nay không còn tình cảm, chị yêu cầu ly hôn với anh B.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 21/6/20XX và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 03/8/20XX, hai con chung hiện đang sống chung với chị L. Chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Minh B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh B không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không kiến nghị gì về tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc L, cho chị L được ly hôn với anh B

Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 21/6/2016 và Nguyễn Ngọc Yến, sinh ngày 03/8/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyễn đơn chị Trần Thị Trúc L có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Minh B vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định. Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh B vắng mặt là tự từ bỏ lời trình bày của đương sự tại tòa. Việc vắng mặt của anh B không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Về hôn nhân: Chị L và anh B kết hôn năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của chị L: Chị và anh B chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh B không lo làm ăn, chơi cờ bạc, đá gà, chị khuyên nhủ nhiều lần, đến tháng 02/2022 thì vợ chồng cùng nhau về bên nhà chị ở xã N, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, nhưng anh vẫn không thay đổi, có lời lẽ xúc phạm chị và cha mẹ chị, anh B đã bỏ đi không sống chung với chị nữa từ tháng 7/2023 cho đến nay, anh chị không có liên lạc, hàn gắn tình cảm. Về phía anh B, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh vẫn không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Cho thấy, anh không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm hàn gắn tình cảm với chị L và mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra những mâu thuẫn như chị L trình bày. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị được ly hôn với anh B là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 21/6/20XX và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 03/8/20XX, hiện hai cháu đang sống với chị L. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị L, Hội đồng xét xử nhận thấy, hai cháu sống cùng chị L đã ổn định về mọi mặt và cháu Q có nguyện vọng được sống chung với mẹ nên cần giao 02 con chung cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Do đó, yêu cầu của chị L là có căn cứ để chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.

[6] Về án phí: Chị L yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Trúc L được ly hôn với anh Nguyễn Minh B.

2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Ngọc Q, sinh ngày 21/6/2016 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 03/8/2020 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị L chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Anh B được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; chị L và các thành viên trong gia đình không được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Trần Thị Trúc L phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001640 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Chị L đã nộp xong án phí. Anh B không phải nộp án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị L, anh B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 về ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:104/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú Đông - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về