Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 04/2019/HS-ST NGÀY 15/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2018/HSST ngày 03 tháng 12 năm2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HS ngày 02/01/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn C, sinh ngày 28/7/2000; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 10/12; Con ông Lương Văn C (Đã chết) và bà Thân Thị H, sinh năm 1963; Gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

- Anh Lương Văn D, sinh ngày 14/8/2000.

Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên tòa).

* Người chứng kiến:

- Ông Vũ Đức T, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

- Bà Nguyễn Thị Anh Tuyên, sinh năm 1950

Địa chỉ: Đường M, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 12/10/2018, tại khu B, thôn M, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Công an thành phố B kiểm tra bắt quả tang Lương Văn C, sinh ngày 28/7/2000 ở thôn K, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh bằng khóa nhựa và viền mầu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể mầu trắng và 01 viên nén hình tròn mầu hồng đỏ trên một mặt của viên nén có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp, thu tại nền đất cạnh chỗ C do C thả từ tay trái xuống khi bị bắt giữ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ mầu xanh, có số IMEL1 là 3010114173377919, số IMEL 2 là 30101417337927 và số tiền 1000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ được nghi là ma túy, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã niêm phong gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 1372/KL-PC54 ngày 15/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

Trong 01 phong bì thư đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thề mầu trắng và 01 viên nén hình tròn mầu hồng đỏ, trên một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền mầu đỏ đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,454 gam (Trong đó khối lượng tinh thể mầu trắng 0,347 gam; khối lượng một viên nén 0,107 gam ).

Quá trình điều tra, Lương Văn C khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 12/10/2018, C rủ Lương Văn D, sinh năm 2000 (là em họ của C) ở thôn K, xã N, huyện Y, tỉnh B lên thành phố B chơi, D đồng ý. C gọi xe tắc xi do anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 ở thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển đến chở C và D từ huyện Y lên khu vực xã T, thành phố B. Anh L đồng ý. Khi anh L điều khiển xe ô tô chở C và D đi qua đoạn đường tầu thuộc thôn M, xã T, thành phố B thì C bảo anh L dừng xe lại. C bảo anh L và D cứ ngồi trên xe ô tô đợi C đi có việc một lúc. Sau đó C xuống xe rồi đi bộ đến cửa của một nhà dân rồi bấm chuông thì thấy ở trong nhà có tiếng gõ vào cánh cửa. C hiểu là trong nhà đang cóngười nên đút 500.000 đồng qua khe cửa cho người ở trong nhà và bảo lấy cho 4 - 1 (nghĩa là bán cho 400.000 đồng tiền ma túy đá và 100.000 đồng tiền ma túy ngựa), người ở trong nhà cầm tiền rồi đưa ra qua khe cửa 01 túi nilon mầu trắng, bên trong đựng ma túy cho C. C cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái đi ra chỗ xe tắc xi đang đợi để đi về. Khi C đi đến gần chỗ xe tắc xi thì bị lực lượng Công an kiểm tra, do sợ hãi nên C thả gói ma túy vừa mua được từ tay trái xuống mặt đất, cạnh chỗ C đang đứng nhưng bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ, thu giữ vật chứng.

Đối với người đã bán ma túy cho Lương Văn C, do C khai mua của một người không quen biết nên không đủ căn cứ xác minh xử lý.

Đối với anh Lương Văn D, sinh năm 2000, trú tại thôn K, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là người C rủ đi cùng thành phố B. Quá trình điều tra xác định anh D không biết việc C mua ma túy.

Đối với anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là người điều khiển xe ô tô tắc xi chở C và D lên thành phố B. Qúa trình điều tra xác định khi anh L điều khiển xe ô tô chở C và D lên thành phố B, anh L không biết việc C đi mua ma túy.

Tại Cáo trạng số 218/CT-VKS-TPBG ngày 30/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Lương Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Người làm chứng là anh Nguyễn Văn L khai: Khoảng hơn 13 giờ ngày 12/10/2018 bị cáo và một nam thanh niên gọi xe taxi của anh chở đi, khi đi đến khu B, thôn M, xã T, thành phố B thì bị cáo bảo anh dừng xe lại chờ để bị cáo đi xuống có việc, bị cáo một mình xuống xe đi bộ vào trong khu B, thôn M, xã T, thành phố B, một lát sau anh thấy lực lượng Công an thành phố B bắt giữ bị cáo, lập biên bản về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với người làm chứng là anh Lương Văn D, người chứng kiến là bà Nguyễn Thị Anh T và ông Vũ Đức T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ thể hiện việc chứng kiến việc lực lượng Công an thành phố B bắt giữ bị cáo, lập biên bản về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lương Văn C từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 12/10/2018. Miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo

3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ mầu xanh, có số IMEL1 là 3010114173377919, số IMEL 2 là 30101417337927 và số tiền 1000.000 đồng.

4. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ váo các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tuy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 12/10/2018 tại khu B, thôn M, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Công an thành phố Bắc Giang bắt quả tang Lương Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,454 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Chung theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác như nghiện hút,trộm cắp tài sản, cướp tài sản.... là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mục đích, nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

Với tình chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sư như trên. Xét thấy cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người công dân biết tuân thủ pháp luật.

[7] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bản thân bị cáo không có công ăn việc làm ổn định. Do vậy, cần miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[8] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì thư đựng mẫu vật được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ mầu xanh, có số IMEL1 là 3010114173377919, số IMEL 2 là 30101417337927 và số tiền 1000.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

[9] Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

- Đối với người đã bán ma túy cho Lương Văn C, do C khai mua của một người không quen biết nên không đủ căn cứ xác minh xử lý, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn C 01 năm 04 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 12/10/2018.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật được niêm phong dán kín hoàn lại sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ mầu xanh, có số IMEL1 là 3010114173377919, số IMEL 2 là 30101417337927 và số tiền 1000.000 đồng .

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án số 04/2019/HS-ST ngày 15/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:04/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về