TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
BẢN ÁN 55/2024/HNGĐ-ST NGÀY 15/05/2024VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON VÀ CHIA TÀI SẢN CHUNG KHI LY HÔN
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mô Cày Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 127/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn C, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
(Tất cả các đương sự đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện để ngày 22/01/2024; Bản tự khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước, bà và ông Đoàn Văn C tự nguyện tiến đến hôn nhân, không có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, vào ngày 09/6/2016. Sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc đến tháng 01/2023 thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do ông C thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau. Ông bà chính thức sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, ông bà không có tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông C do không còn tình cảm.
Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà có 01 con chung tên Đoàn Khả H, sinh ngày 05/10/2014, hiện đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống, ông bà không có tài sản chung và không có nợ ai.
Bà không có giữ 04 chỉ vàng 24K 9999 như ông C trình bày do lúc đầu mới chung sống ông C chưa tin tưởng bà, tiền lương hàng tháng ông C vẫn tự giữ nên bà không đồng ý hoàn trả cho ông C 04 chỉ vàng 24K 9999.
Về tiền lương hàng tháng của ông C thì trước đây là 500.000 đồng, lương 1.300.000 đồng chỉ mới tăng thời gian gần đây, còn tiền đi làm hàng tháng của ông C thì không ổn định, có khi có khi không do lao động tự do, thu nhập hàng tháng của bà khoảng 500.000 đồng. Tổng thu nhập cũng như chi tiêu hàng tháng của gia đình bao nhiêu bà không nhớ rõ nhưng do nhà có con nhỏ và con thường bệnh, dịch bệnh C1 nên tiền vợ chồng làm không có dư như ông C trình bày. Bà không đồng ý giao trả cho ông C số tiền 150.000.000 đồng do tiền vợ chồng làm chỉ đủ sống, không có dư để tích lũy.
Tại đơn yêu cầu để ngày 10/4/2024, bản tự khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; Bị đơn ông Đoàn Văn C trình bày như sau:
Về hôn nhân: Ông thống nhất hoàn toàn phần trình bày của bà T về điều kiện, thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mất hạnh phúc. Nay ông đồng ý ly hôn với bà T do không còn tình cảm.
Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà có 01 con chung tên Đoàn Khả H, sinh ngày 05/10/2014, hiện đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao cháu H cho bà T trực tiếp nuôi và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống 13 năm, ông bà có chăn nuôi vịt, dê, hàng ngày ông đi làm, bà T ở nhà có làm thêm nên có thu nhập hàng tháng. Sau khi trừ các chi phí sinh hoạt thì tổng cộng vợ chồng còn tích lũy được 300.000.000 đồng, số tiền này do bà T đang giữ. Số tiền dư này do ông tự tính dựa vào thu nhập và chi phí hàng tháng của gia đình. Ông và bà T chưa bao giờ tổng kết lại số tiền ông bà tích lũy được, kể cả khi ông bà chính thức sống ly thân. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu chia đôi số tiền này, yêu cầu bà T giao cho ông 150.000.000 đồng.
Ngoài ra, khi sống chung với nhau vào năm 2011 (chưa đăng ký kết hôn) ông có giao cho bà T giữ 04 chỉ vàng 24K 9999 là vàng có được do ông lãnh tiền bảo hiểm, khi đưa không có giấy tờ và cũng không có ai chứng kiến. Nay ông yêu cầu bà T phải trả cho ông số vàng này vì đây là tài sản riêng của ông.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, ông bà không có nợ ai. Tại Biên bản lấy ý kiến để ngày 09/4/2024, cháu Đoàn Khả H trình bày như sau:
Nếu cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.
Tại Biên bản xác minh để ngày 22/4/2024 về nguyên nhân mâu thuẫn của bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn C có nội dung như sau:
Bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre. Ông bà có một người con chung. Trong quá trình sinh sống tại địa phương, bà T và ông C không có nhờ chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hôn nhân nên địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly hôn giữa bà T và ông C.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mô Cày Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
+ Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của ông Đoàn Văn C.
Cụ thể:
+ Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn C thuận tình ly hôn.
+ Về con chung: Bà Nguyễn Thị T được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Khả H, sinh ngày 05/10/2014 và ông Đoàn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.
+ Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
+ Không chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn C về việc phân chia số tiền 300.000.000 đồng và đòi bà T hoàn trả 04 chỉ vàng 24K 9999.
+ Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:
[1] Về hôn nhân: Hôn nhân của bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu mất hạnh phúc. Sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau và chính thức sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, ông bà không có tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà T, ông C đều thuận tình ly hôn do không còn tình cảm. Điều đó chứng tỏ rằng cuộc sống hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận sự thuận tình ly hôn của bà T và ông C là phù hợp.
[2] Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà có 01 con chung tên Đoàn Khả H, sinh ngày 05/10/2014, hiện đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T và Ông C thống nhất giao cháu H cho bà T tiếp tục trực tiếp nuôi và ông C không phải cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy ý kiến để ngày 09/4/2024, cháu H trình bày cháu có nguyện vọng sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy, sự thỏa thuận của ông bà là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nguyện vọng của cháu H và không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận. Đối với yêu cầu cấp dưỡng, việc bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung là sự tự nguyện nên ghi nhận.
[3] Về chia tài sản:
[3.1] Về tài sản chung:
Ông C cho rằng trong thời gian chung sống 13 năm, ông bà có tích lũy được 300.000.000 đồng và số tiền này do bà T đang giữ. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu chia đôi, mỗi người nhận một nửa và yêu cầu bà T giao cho ông 150.000.000 đồng. Bà T xác định trong thời gian chung sống ông bà không có tài sản chung nên bà không đồng ý theo yêu cầu của ông C. Bà T cho rằng hàng tháng ông bà có thu nhập nhưng do có con nhỏ nên không có dư, chỉ đủ sống.
Xét thấy, các đương sự đều thừa nhận hàng tháng ông C, bà T đều có thu nhập. Ông C cho rằng trong thời gian chung sống ông và bà T có tích lũy, tiết kiệm được 300.000.000 đồng nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh mặc dù ông đã nhận thông báo giao nộp chứng cứ của Tòa án. Bà T cho rằng thu nhập hàng tháng chỉ đủ sống, không có dư và bà T không thừa nhận lời trình bày của ông C. Đồng thời, ông C cũng không xác định được chi phí hàng tháng của gia đình là bao nhiêu và ông cũng thừa nhận hàng tháng ông bà không có tổng kết lại số tiền đã tiết kiệm được là bao nhiêu. Như vậy, xác định hàng tháng ông C và bà T có tạo ra thu nhập là có thật nhưng thu nhập này chỉ đủ để sống, không có dư để tích lũy như ông C trình bày. Vì vậy, không có cơ sở để xác định trong thời gian chung sống ông C và bà T có tài sản chung nên không chấp nhận yêu cầu chia 300.000.000 đồng của ông C là phù hợp.
[3.2] Về nợ chung: Bà T và ông C thống nhất trong thời gian chung sống ông bà không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản riêng: Ông C cho rằng vào năm 2011 ông có giao cho bà T giữ 04 chỉ vàng 24K 9999 là vàng có được do ông lãnh tiền bảo hiểm, khi đưa không có giấy tờ và không có ai chứng kiến. Nay ông yêu cầu bà T phải trả cho ông số vàng này. Bà T trình bày bà không có nhận của ông C số vàng nào nên không đồng ý theo yêu cầu của ông C.
Xét thấy, ông C cho rằng ông đã giao cho bà T giữ 04 chỉ vàng 24K 9999 nhưng hai bên không có lập biên bản giao nhận và không có ai chứng kiến. Tòa án đã ra thông báo giao nộp chứng cứ yêu cầu ông C cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, ông C đã nhận được nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ngoài ra, bà T không thừa nhận có nhận và quản lý của ông C 04 chỉ vàng 24K 9999 do lúc này ông bà chưa đăng ký kết hôn, ông C còn chưa tin tưởng bà nên ông C không đưa bà giữ số vàng lớn như vậy. Vì vậy, không có cơ sở để xác định ông C có giao cho bà T 04 chỉ vàng 24K 9999 nên không chấp nhận yêu cầu này của ông C là phù hợp.
[4] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do xác định tài sản ông Đoàn Văn C yêu cầu chia không phải là tài sản chung của ông C và bà T nên ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Do yêu cầu hoàn trả 04 chỉ vàng 24K 9999 của ông Đoàn Văn C không được chấp nhận nên ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Biết rằng, tại thời điểm xét xử 01 chỉ vàng 24K 9999 có giá trị là 7.500.000 đồng. Vì vậy, ông C phải chịu án phí: (7.500.000 đồng x 04 chỉ) x 5% = 1.500.000 đồng.
[5] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam là phù hợp hoàn toàn với nhận định của Tòa nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T.
- Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của bị đơn Đoàn Văn C. Cụ thể tuyên:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn C.
Bà Nguyễn Thị T và ông Đoàn Văn C được ly hôn với nhau.
2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị T được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Khả H, sinh ngày 05/10/2014 và ông Đoàn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về chia tài sản:
3.1. Về tài sản chung:
Không chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn C về việc phân chia số tiền 300.000.000 đồng.
Trong thời gian chung sống, ông bà không có tài sản chung nên không xem xét giải quyết.
3.2. Về nợ chung: Bà T và ông C thống nhất trong thời gian chung sống ông bà không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.
3.3. Về tài sản riêng: Không chấp nhận yêu cầu của ông Đoàn Văn C về việc đòi bà T hoàn trả 04 chỉ vàng 24K 9999.
4. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu số 0005270 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam nên không phải nộp thêm.
Ông Đoàn Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005303 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam nên hoàn trả cho ông C số tiền 1.950.000 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Đoàn Văn C số tiền tạm ứng án phí 752.000 đồng (Bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005302 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.
5. Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn số 55/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 55/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Nam - Bến Tre |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 15/05/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về