Bản án 99/2017/HSPT ngày 20/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 99/2017/HSPT NGÀY 20/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20/11/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 150/2017/HSPT ngày 11/10/2017, do có kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Hải Dương đối với bản án hình sự sơ thẩm số 164/2017/HSST, ngày 30/8/2017 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Bị cáo bị kháng nghị: NGUYỄN KIÊM T, sinh năm 1992. ĐKHKTT: xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương;  Nghề nghiệp:  Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Kiêm H và con bà Phạm Thị H. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2017 đến ngày 17/5/2017 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Hải Dương; được trả tự do ngay tại phiên tòa sơ thẩm ngày 30/8/2017. Bị cáo  có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) thành phố Hải Dương và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) thành phố Hải Dương thì vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

Khoảng 15h30’ ngày 19/4/2017, tại khu vực chợ S, phường B, thành phố H, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP. Hải Dương bắt quả tang Nguyễn Kiêm T đang cất giấu trái phép trong túi quần bên phải đang mặc 01 gúi nilon màu trắng kích thước(2x2)cm bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anh Lê Mạnh C ở phường N, thành phố H và anh Nguyễn Văn M ở phường C, thành phố H.

Quá trình điều tra Nguyễn Kiêm T khai nhận: T là người nghiện chất ma túy. Sáng ngày 19/4/2017, tại phường B, thành phố H, T được một người bạn tên N (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) cho 01 gúi nilon màu trắng kích thước (2x2)cm bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp. Khoảng 13h00’ cùng ngày, T đem theo gúi ma túy trên đi xe buýt từ nhà lên thành phố H chơi. Đến khoảng 15h30’ cùng ngày, khi T đang đi bộ ở khu vực chợ S thuộc phường B, thành phố H thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP. Hải Dương phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 2016/KLGĐ ngày 12/5/2017 của Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận:

Chất tinh thể màu trắng gúi nilon gửi giám định trọng lượng 1,483 gam có Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 131/VKS-HS ngày 10/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố Nguyễn Kiêm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự

Bn án hình sự sơ thẩm số 164/2017/HSST ngày 30-8-2017, TAND thành phố Hải Dương đã áp dụng:  Điều 25,  điểm c  khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 76, Điều 99, Điều 227 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kiêm T. Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí theo quy định.

Ngày 12/9/2017 Viện trưởng VKSND thành phố Hải Dương kháng nghị. Theo quyết định kháng nghị số 13/QĐKNPT-VKS thì VKSND thành phố Hải Dương đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng tuyên bị cáo phạm tội và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo đề nghị tòa xem xét theo quy định của pháp luật.

VKSND tỉnh Hải Dương vẫn giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Hải Dương, đề nghị Tòa án hủy án sơ thẩm, giao vụ án về cấp sơ thẩm xét xử lại theo tội danh và áp dụng hình phạt như VKSND thành phố đã đề nghị.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Xét kháng nghị của Viện trưởng VKSND thành phố Hải Dương, HĐXX thấy rằng: Vật chứng là chất tinh thể màu trắng trong gúi nilon gửi giám định có trọng lượng 1,483 gam có Methamphetamine. Như vậy vật chứng của vụ án là “vật phẩm có chất ma túy” chứ không phải là “chất ma túy” như điều 194 BLHS năm 1999 quy định, tức là ngoài tinh chất ma túy trên còn có nhiều tạp chất khác, nên TAND thành phố Hải Dương đã lấy hàm lượng chất ma túy có trong vật phẩm đó để xác định tổng trọng lượng chất ma túy theo quy định của BLHS là có căn cứ và đúng pháp luật.

Căn cứ vào Kết luận giám định số 344/KLGĐ ngày  18/8/2017 của Viện khoa học hình sự tổng cục cảnh sát, có căn cứ xác định lượng Methamphetamin tinh chất thu giữ được của Nguyễn Kiêm T cụ thể là 45,1%, x 1,483 gam = 0,6688 g tinh chất. Đối chiếu với quy định tại Điều 194 BLHS; điểm e tiểu mục 3.6 mục 3 phần II Thông tư số 17 ngày 24/12/2007 của VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP về “hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII các tội về ma túy” của Bộ luật hình sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 164/2017/HSST ngày 30-8-2017 của TAND thành phố Hải Dương.

Áp dụng:  Điều 25 Bộ luật hình sự.

Xử: Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kiêm T.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 20/11/2017.


96
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về