Bản án 98/2020/HNGĐ-ST ngày 02/10/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 98/2020/HNGĐ-ST NGÀY 02/10/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 02 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2020/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Mộng T, sinh năm: 1980. Địa chỉ: 397, ấp B, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Long Đ, sinh năm: 1979. Địa chỉ: 602, ấp T, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T và anh Đ vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/7/2020, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 30/9/2020, nguyên đơn là chị Phan Thị Mộng T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Long Đ chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu Tẫn, bất đồng quan điểm do anh hay uống rượu và đánh chị. Chị và anh Đ đã ly thân mấy tháng nay. Chị có con riêng đã lớn, con của chị cũng không chấp nhận anh Đ đối xử với chị như vậy. Chị cũng đã nhiều lần cho anh Đ cơ hội nhưng anh không thay đổi mà còn làm những việc xúc phạm chị, chị không chấp nhận được nên kiên quyết ly hôn anh Đ. Chị và anh Đ không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 20/8/2020, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 30/9/2020, bị đơn là anh Nguyễn Long Đ trình bày:

Anh thống nhất với trình bày của chị T về thời gian chung sống, hôn nhân. Anh thừa nhận anh có sai là đánh chị T mấy bạt tay vì không muốn chị chơi với những thành phần không tốt trong xã hội. Anh cũng đã nhận lỗi với chị T nên có bàn bạc chị rút đơn khởi kiện, anh sẽ sửa đổi và lo cho chị nhưng chị không đồng ý. Tòa án hòa giải động viên nhưng chị T không chịu đoàn tụ với anh. Anh còn thương chị T nên vẫn giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn.

Do bận công việc nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

Tòa án cứ giải quyết theo quy định pháp luật, anh cam kết không khiếu nại về sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Phan Thị Mộng T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Long Đ. Anh Đ là bị đơn trong vụ án, đang sống tại xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Chị T, anh Đ có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T, anh Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Mộng T và anh Nguyễn Long Đ chung sống năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh Đ là hợp pháp. Tuy nhiên, chị T và anh Đ đều cho rằng trong thời gian chung sống, anh chị có mâu Tẫn do bất đồng quan điểm nên đã không còn sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn. Anh Đ thừa nhận anh có đánh chị T nhưng do anh không muốn chị chơi với những người không tốt. Anh còn thương chị T nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, mặc dù Tòa án đã hòa giải động viên đoàn tụ nhưng chị T vẫn kiên quyết ly hôn.

Như vậy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T để giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: Chị T và anh Đ không có con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh Đ khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Mộng T.

Chị Phan Thị Mộng T được ly hôn anh Nguyễn Long Đ.

Về con chung: Chị Phan Thị Mộng T và anh Nguyễn Long Đ không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị Mộng T và anh Nguyễn Long Đ không có tài sản chung, không có nợ chung.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Phan Thị Mộng T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002371 ngày 29 tháng 7 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Chị T đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 98/2020/HNGĐ-ST ngày 02/10/2020 về ly hôn

Số hiệu:98/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về