Bản án 98/2018/DS-PT ngày 22/01/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 98/2018/DS-PT NGÀY 22/01/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 661/2017/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 457/2017/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận TB bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2978/2017/QĐPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1962; cư trú tại: Số nhà 58/32 PCT, Phường H, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1972; cư trú tại: Số nhà 86 NT, Phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 13/5/2013) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1970; cư trú tại: Số nhà 29/14 TC, Phường M, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958; cư trú tại: Số nhà 21/10 Quốc lộ 22, ấp TC, xã TC, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 14/5/2013) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2013 và trong quá trình xét xử, ông Trần Văn H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh N trình bày:

Do mối quan hệ quen biết nên ngày 27/3/2010, ông Nguyễn Thanh N cho ông Nguyễn Hoàng N2 vay số tiền là 700.000.000 đồng, thời hạn vay là 16 tháng, thời hạn trả ngày 27/7/2011, hai bên thỏa thuận lãi bằng lời nói, cụ thể mức lãi suất trong hạn là 1%/tháng, mức lãi suất quá hạn là 1,5%/tháng nhưng không ghi vào giấy nợ ngày 27/3/2010. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N2 không trả vốn và lãi cho ông N. Đến hạn trả nợ, ông N nhiều lần yêu cầu ông N2 trả tiền nhưng ông N2 không trả.

Nay, ông H đại diện cho ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N2 phải trả cho ông N số tiền nợ gốc là 700.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 27/3/2010 đến ngày 27/7/2011 theo mức lãi suất 1%/tháng là 112.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 28/7/2011 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (ngày 15/9/2017) với mức lãi suất 1,5%/tháng là 771.750.000 đồng, tổng cộng là 1.583.750.000 đồng, yêu cầu trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 20/8/2013, bà Nguyễn Thị H2 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn – ông Nguyễn Hoàng N2 trình bày:

Ngày 27/3/2010, ông Nguyễn Hoàng N2 có mượn ông Nguyễn Thanh N số tiền là 700.000.000 đồng, thời hạn vay 16 tháng, ngày trả nợ là 27/7/2011, hai bên thỏa thuận mức lãi suất bằng lời nói là 2%/tháng nhưng không ghi mức lãi vào giấy mượn tiền ngày 27/3/2010, hàng tháng ông N2 trả lãi cho N là 14.000.000 đồng, mỗi lần trả lãi ông N2 đưa cho ông Lê Văn D đem đến đưa cho ông N, vì tin tưởng nhau nên khi trả lãi ông N2 không yêu cầu ông N viết giấy biên nhận tiền.

Đến tháng 4/2012, do gặp khó khăn về kinh tế nên ông N2 không trả lãi thường xuyên cho ông N nữa. Nay với yêu cầu khởi kiện của ông N, ông N2 không có khả năng trả nợ cho ông N, đồng thời bà yêu cầu Tòa án tính lại số tiền lãi mà ông N2 đã trả cho ông N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 457/2017/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận TB quyết định:

1.Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Hoàng N2 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Thanh N số tiền gốc: 700.000.000 đồng, tiền lãi: 662.812.500 đồng, tổng cộng là: 1.362.812.500 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông N2 chậm thanh toán khoản tiền nêu trên thì ông N2 phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N yêu cầu của ông Nguyễn Hoàng N2 thanh toán số tiền lãi: 220.937.500 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2017, nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh N kháng cáo cho rằng bị đơn thừa nhận lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/tháng, nguyên đơn yêu cầu 1%/tháng là có lợi cho bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Trần Văn H đại diện cho ông N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bị đơn thừa nhận lãi suất hai bên thỏa thuận là 2%/tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Ông N2 vay của ông N 700.000.000 đồng, hai bên đều thừa nhận có lãi, nguyên đơn cho rằng lãi suất các bên thỏa thuận là 1% nhưng không cung cấp đươc tài liệu chứng minh lãi suất các bên thỏa thuận là 1%. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Theo đó, ông N2 trả lãi quá hạn là 700.000.000 đồng x 0.75%/tháng x 73 tháng 15 ngày = 385.875.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tính buộc ông N2 trả lãi quá hạn 700.000.000 đồng x 1,125%/tháng x 73 tháng 15 ngày = 578.812.500 đồng là chưa đúng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm về phần lãi quá hạn, đồng thời tính lại án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị H2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về yêu cầu trả tiền vốn vay: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự có đủ cơ sở xác định ngày 27/3/2010 ông Nguyễn Hoàng N2 vay ông Nguyễn Thanh N số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng, thời hạn vay là 16 tháng, ngày trả nợ là 27/7/2011. Đến hạn trả nợ ông N yêu cầu nhiều lần nhưng ông N2 không trả. Do vậy, ông H yêu cầu ông N2 phải trả cho ông N số tiền nợ gốc 700.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[3] Về tiền lãi:

3.1. Theo ông H đại diện ông N thì ông N và ông N2 thỏa thuận mức lãi suất bằng lời nói, cụ thể lãi trong hạn là 1%/tháng, lãi quá hạn là 1,5%/tháng, còn theo bà H2 đại diện ông N2 thì lãi suất là 2%/tháng. Do đó có cơ sở xác định ông N2 vay ông N 700.000.000 đồng, đây là khoản vay có lãi.

3.2. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H2 đại diện cho ông N2 thừa nhận lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng và ông N2 đưa tiền cho ông Lê Văn D trả lãi cho ông N, mỗi tháng 14.000.000 đồng đến tháng 4/2012, bà H2 đề nghị trừ cấn vào tiền lãi. Tòa án đã yêu cầu bà H2 cung cấp địa chỉ nơi cư trú của ông D và cũng không xuất trình được tài liệu chứng minh ông N2 đã trả lãi cho ông N. Trong khi ông H đại diện ông N khai không biết ông D là ai, ông N2 cũng chưa trả lãi cho ông N. Do vậy, bà H2 đại diện ông N2 yêu cầu tính lại tiền lãi là không có cơ sở chấp nhận.

3.3. Ông H đại diện cho ông N yêu cầu ông N2 phải trả tiền lãi trong hạn từ ngày 27/3/2010 đến ngày 27/7/2011 là 16 tháng theo mức lãi suất 1%/tháng là 112.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn từ ngày 28/7/2011 đến ngày 15/9/2017 (ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính tròn) là 73 tháng 15 ngày với mức lãi suất 1,5%/tháng là 771.750.000 đồng. Bà H2 đại diện cho ông N2 thừa nhận lãi suất là 2%/tháng.

Tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương đương 0.75%/tháng.

Căn cứ vào các quy định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông N, sửa bản án sơ thẩm về phần lãi suất như sau:

Lãi trong hạn từ ngày 27/3/2010 đến ngày 27/7/2011 là 700.000.000 đồng x 1% x 16 = 112.000.000 đồng.

Lãi quá hạn từ ngày 28/7/2011 đến ngày 15/9/2017 là 700.000.000 đồng x 1,125%/tháng x 73 tháng 15 ngày = 578.812.500 đồng.

Tổng số tiền lãi: 112.000.000 đồng + 578.812.500 đồng = 690.812.125 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi ông N2 phải trả cho ông N là: 700.000.000 đồng + 690.812.125 đồng = 1.390.812.125 đồng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông N, buộc ông N2 phải trả cho ông N tổng số tiền gốc và lãi là 700.000.000 đồng + 690.812.125 đồng = 1.390.812.125 đồng; không chấp nhận một phần yêu cầu của ông N về việc buộc ông N2 trả số tiền lãi là 1.583.750.000 đồng - 1.390.812.125 đồng = 192.937.875 đồng.

[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí: Theo quy định tại Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 ông N2 phải nộp 53.724.364 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông N phải nộp 9.646.894 đồng án phí dân sự sơ thẩm, trừ vào số tiền 16.200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, ông N được nhận lại 6.553.106 đồng. Án phí dân sự phúc thẩm ông N không phải nộp, hoàn trả cho ông N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 471 và khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005;

- Căn cứ vào Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh N.

Sửa bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Hoàng N2 phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Thanh N số tiền gốc là 700.000.000 đồng, tiền lãi là 690.812.125 đồng, tổng cộng là 1.390.812.125 đồng.

Kể từ ngày ông N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông N2 chậm thanh toán khoản tiền nêu trên thì ông N2 phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Hoàng N2 phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 53.724.364 đồng. Ông Nguyễn Thanh N phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 9.646.894 đồng, trừ vào số tiền 16.200.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AH/2011/02090 ngày 22/4/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự quận TB, ông N được nhận lại 6.553.106 đồng.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh N 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2017/0007119 ngày 08/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận TB.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


62
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về