Bản án 94/2017/HSST ngày 22/08/2017 về tội trộm cắp tài sản (chưa đạt)

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 94/2017/HSST NGÀY 22/08/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN (CHƯA ĐẠT)

Ngày 22 tháng 8 năm 2017, tại Nhà Văn hoá phố N, phường T, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2017/ HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: PHAN THÀNH D, (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1988, tại Đông Triều, Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT: Tổ 1, khu I, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hoá: 12/12; Con ông: Phan Công T, sinh năm 1964 và bà: Phạm Thị T, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Tại bản án số 93/HSST ngày 15/11/2010 Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh quảng Ninh xử phạt 6 năm tù về tội “Cướp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/5/2016.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2017 đến ngày 13/5/2017 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Chị Dương Thị N, sinh năm 1985; Trú tại: Số nhà 426, đường30/6, phố P, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; (Vắng mặt không có lýdo).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Khắc L, sinh năm 1981; Trú tại: Số nhà 426, đường 30/6, phố P, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; (Vắng mặt không có lý do).

NHẬN THẤY

Bị cáo Phan Thành D bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Phan Thành D là người không có nghề nghiệp, để có tiền tiêu D đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 17 giờ ngày 07/5/2017 D đi lang thang quanh khu vực thành phố Ninh Bình, mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực đường 30/6 thuộc phố P, phường N, thành phố Ninh Bình, D phát hiện trước cửa số nhà 426 có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honđa Wave BKS 35H9-2439 của anh Phạm Khắc L, sinh năm 19981, trú tại phố P, phường N, thành phố Ninh Bình. D thấy chìa khóa xe vẫn cắm trên ổ khóa. Quan sát thấy không có người trông coi, D đến vị trí chiếc xe bật ổ khóa điện và dắt xe lùi lại cách vị trí ban đầu khoảng 5m, sau đó D nổ máy và định lên xe tẩu thoát. Lúc này anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1975, trú tại số nhà 416, đường 30/6, phố P, phường N, thành phố Ninh Bình là hàng xóm nhà anh L phát hiện nên đã tri hô, thấy có người tri hô, D đã vất xe lại bỏ chạy về hướng Thanh Hóa. Cùng lúc này tổ công tác Công an phường N, thành phố Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tại đây phối hợp với quần chúng nhân dân đuổi bắt. D chạy đến khu vực bãi đất trống cách nhà anh L khoảng 100m thì bị bắt giữ. Tổ công tác đã yêu cầu D cùng tang vật chứng và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định trưng cầu định giá đối với chiếc xe mô tô HonđaWave BKS 35H9-2439 do D trộm cắp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐ ngày 08/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Ninh Bình kết luận: 01 chiếc xe mô tô Honđa Wave BKS 35H9-2439 trị giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 102/CT- VKS ngày 20/7/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Phan Thành D ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội: "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì. Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Thành D từ 09  tháng  đến  12  tháng  tù,  thời  hạn  chấp  hành  hình  phạt  tù tính từ ngày 07/5/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe mô tô Honđa Wave BKS 35H9-2439, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Dương Thị N, là vợ anh Phạm Khắc L. Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe trên cho chị Dương Thị N, chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề gì. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Phan Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 07/5/2017 tại số nhà 426, đường 30/6, phố P, phường N, thành phố Ninh Bình, bị cáo Phan Thành D đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, dựng xe trước cửa nhà mà không rút chìa khóa điện, bị cáo đã lén lút đến bật ổ khóa điện, lùi xe, nổ máy định lên xe tẩu thoát thì bị phát hiện bắt quả tang. Việc bị cáo không chiếm đoạt được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 35H9-2439 của chị Dương Thị N là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt  được quy định tại Điều 18 Bộ luật hình sự. Trị giá chiếc xe mô tô là 4.500.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”chưa đạt theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự .

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận, bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh bất chấp coi thường pháp luật. Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng: Bản thân bị cáo đã có tiền án về tội “Cướp tài sản” chưa được xoá án tích, đến nay bị cáo lại phạm tội do cố ý, lần phạm tội này là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự  được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đưa vụ án ra xét xử công khai lưu động nhằm tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố Ninh Bình biết để phòng ngừa tội phạm và nâng cao cảnh giác là cần thiết.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, cơ quan Công an thành phố Ninh Bình đã thu giữ chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 35H9-2439 đăng ký xe mang tên chị Dương Thị N (vợ anh Phạm Khắc L) mà bị cáo chiếm đoạt. Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô BKS 35H9-2439 cho chị Dương Thị N, chị N đã nhận lại chiếc xe trên, chị N và anh L không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Do vậy hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.  Tuyên  bố : Bị cáo Phan Thành D phạm tội: “Trộm cắp tài sản” (chưa đạt). Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điều 18; Điều 52; điểm p khoản 1  Điều  46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Thành D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2017.

2. Án phí : Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phan Thành D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 22/8/2017. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

1644
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 94/2017/HSST ngày 22/08/2017 về tội trộm cắp tài sản (chưa đạt)

Số hiệu:94/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về