Bản án 938/2020/HSPT ngày 07/12/2020 về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 938/2020/HSPT NGÀY 07/12/2020 VỀ TỘI SỬ DỤNG CON DẤU HOẶC TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

Ngày 07 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 777/2020/TLPT- HS ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Đỗ Thanh H do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 228/2020/HS-ST ngày 18/09/2020 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Thanh H, sinh năm 1987.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Mạnh H1 và bà Thân Thị N; có vợ Trần Thu T (đã ly hôn), chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Đảng, đoàn thể: Là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 03-QĐ/UBKTHU ngày 01/9/2020 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy L, tỉnh Bắc Giang.

Danh chỉ bản số 000000418 lập ngày 22/6/2020 tại Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Bị cáo đầu thú và bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên nhận được đơn tố giác tội phạm của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chi nhánh Chương Dương, địa chỉ: số 562 Nguyễn Văn Cừ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội về việc: Tố giác Đỗ Thanh H có hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để làm hồ sơ vay vốn tại VPBank với số tiền vay là 135.000.000 đồng.

Nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã xác M làm rõ:

Ngày 28/8/2019, Đỗ Thanh H là Bí thư Đoàn xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm hồ sơ vay vốn tại ngân hàng VPBank dưới hình thức bảo đảm bằng lương với số tiền vay 110.000.000 đồng. Đến tháng 10/2019, H xin nghỉ công tác. Khoảng đầu tháng 11/2019, do cần tiền trả nợ nên Đỗ Thanh H nảy sinh ý định làm giả giấy xác nhận lương để tiếp tục vay vốn tại Ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương dưới hình thức vay bảo đảm bằng lương. H đã nhờ Thân Văn T làm giả giấy xác nhận lương của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang, T đồng ý. T lên mạng Internet tìm kiếm người làm giả giấy tờ, T sử dụng điện thoại Iphone 7 có số thuê bao 0968098181 liên lạc theo số điện thoại 0961757026 trên mạng thì được hướng dẫn kết bạn Zalo với một người tên M để gọi, nhắn tin về việc làm giả giấy tờ. Sau khi thỏa thuận làm 01 giấy xác nhận lương giả với giá 5.000.000 đồng, H đồng ý làm và chuyển tiền cho T để T chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (TechcomBank) số 19031152360014, chủ tài khoản Lê Vũ Hiệp theo yêu cầu của M. T đã chuyển địa chỉ mail: thuanthien1268@gmail.com của M cho H để H gửi các thông tin gồm mẫu yêu cầu cần xác nhận, mẫu chữ ký và tên người ký, mẫu dấu của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho M để làm giấy tờ giả. Sau khi làm xong giấy xác nhận lương giả, M gửi chuyển phát và nhắn mã vận đơn A1011013 cho T, T nhắn lại cho H để H đến nhận gói hàng. Ngày 21/11/2019, H đến văn phòng Công ty CP giao nhận hàng hóa NASCO, địa chỉ: Số 2 phố Văn Cao, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội để nhận giấy tờ giả (tên người gửi: Nguyễn Văn Linh, SĐT: 0339934168) (BL 184). Ngày 22/11/2019, H đến Ngân hàng VPBank chi nhánh Chương Dương sử dụng giấy xác nhận bảng lương giả trên để nộp hồ sơ vay vốn. Qua thẩm định hồ sơ, Ngân hàng VPBank nghi ngờ Đỗ Thanh H sử dụng giấy tờ, tài liệu giả nên đã trình báo Công an quận Long Biên.

Tang vật thu giữ:

- 01 Bảng xác nhận thông tin nhân sự và thu nhập có hình dấu của UBND XÃ Q – H. L – BẮC GIANG và có chữ ký của ông HÀ VĂN PHưƠNG – PHÓ CHỦ TỊCH;

- 01 Quyết định số 116 ngày 08/5/2017 công nhận chức danh Bí thư Đoàn xã Q khóa XXIII nhiệm kỳ 2017 – 2022 có hình con dấu của B.C.H ĐOÀN HUYỆN L - BẮC GIANG và chữ ký của ông Bùi Đức Hùng - Bí thư;

- 01 Quyết định nâng bậc lương cán bộ, công chức xã, thị trấn số 5504 ngày 28/7/2017 có hình con dấu của ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN L và chữ ký của ông Ngô Minh Đ - Phó chủ tịch;

- 01 Giấy CMND số 121161699 mang tên Đỗ Thanh H - SN: 26/8/1987 – Nơi ĐKTT: xã Q, huyện L, Bắc Giang. Cấp ngày 26/9/2019 tại Công an tỉnh Bắc Giang;

- 01 điện thoại di động Iphone 7 màu trắng;

- 01 điện thoại di động Nokia màu đen;

- 01 Giấy CMND số 121357653 mang tên Thân Văn T - SN: 14/11/1981 – Nơi ĐKTT: xã M, huyện V, Bắc Giang. Cấp ngày 18/12/2018 tại Công an tỉnh Bắc Giang.

Kết luận giám định số 7534/C09-P5 ngày 31/12/2019 của Viện Khoa học hình sự Bộ công an kết luận:

- Chữ ký dưới mục “Xác nhận của UBND xã” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Hà Văn Phương trên mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng một người ký ra.

- Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D XÃ Q H L T BẮC GIANG” dưới mục “Xác nhận của UBND xã” trên mẫu cần giám định ký hiệu A là hình dấu được tạo ra bằng phương pháp in phun mầu.

- Hình dấu có nội dung “PHÓ CHỦ TỊCH HÀ VĂN PHưƠNG” dưới mục “Xác nhận của UBND xã” trên mẫu cần giám định ký hiệu A là hình dấu được tạo ra bằng phương pháp in phun mầu.

Tại Kết luận giám định số 3853 ngày 22/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Các hình dấu tròn có nội dung: “UBND XÃ Q – H. L – BẮC GIANG”; “B.C.H ĐOÀN HUYỆN L”; “ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN L” và hình dấu tròn trên 02 CMND trên mẫu gửi đến giám định so với hình dấu so sánh tương ứng do cùng một con dấu đóng ra.

- Chữ ký đứng tên Hà Văn Phương so với chữ ký đứng tên Hà Văn Phương trên mẫu so sánh do cùng một người ký ra.

- Chữ ký đứng tên Bùi Đức Hùng trong mẫu gửi đến giám định với chữ ký đứng tên Bùi Đức Hùng trên mẫu so sánh không đủ cơ sở kết luận.

- Chữ ký đứng tên Ngô M Đoàn gửi đến giám định là chữ ký photocopy nên không tiến hành giám định.

Tại Bản cáo trạng số 245/CT-VKS ngày 28/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Thân Văn T về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh H 08 tháng tù, hạn tù tính từ ngày 19/6/2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo Thân Văn T; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/10/2020, bị cáo Đỗ Thanh H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thanh H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh H trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Đỗ Thanh H tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Thanh H về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; tuy nhiên, mức hình phạt 08 tháng tù đối với bị cáo Đỗ Thanh H là có phần nghiêm khắc.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh H, sửa quyết định của bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 06 tháng tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh H trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]Căn cứ vào lời khai của bị cáo Đỗ Thanh H, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 22/11/2019, tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chi nhánh Chương Dương số 562 Nguyễn Văn Cừ, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, bị cáo Đỗ Thanh H có hành vi sử dụng 01 giấy xác nhận lương giả của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang để làm hồ sơ vay vốn ngân hàng thì bị Công an quận Long Biên phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Đỗ Thanh H đã cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Thanh H về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Thanh H là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn khỏi nơi cư trú, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do đó, cần pH xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Đỗ Thanh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; đồng thời xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ngày 19/6/2020, bị cáo Đỗ Thanh H đến Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang để đầu thú nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Thanh H và sửa quyết định của bản án sơ thẩm.

[4]Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Đỗ Thanh H không pH nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[5]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh H và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh H 05 (Năm) tháng 18 (Mười tám) ngày tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2020.

Ghi nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đỗ Thanh H nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đỗ Thanh H không pH nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 07/12/2020.


22
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về