Bản án 93/2018/HSPT ngày 27/03/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 93/2018/HSPT NGÀY 27/03/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2018/HSPT ngày 18 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Lương Đình Ch do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76/2017/HSST ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Lương Đình Ch, sinh năm 1984 tại Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn Tr, xã V L, huyện K X, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Đình Ng và bà Trần Thị M; có vợ là Phạm Thị Th và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 32/2016/HSST ngày 13/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam là 54 ngày (từ ngày 04/4/2016 đến ngày 27/5/2016), còn phải chấp hành 03 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ, Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ số 10/2016/QĐ-CA ngày 16/8/2016; nhân thân: tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 2003 đến năm 2005 xuất ngũ về địa phương; bị bắt tạm giữ từ ngày 25/9/2017 đến ngày 29/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

Trong vụ án còn có 06 bị cáo là Trần Xuân B, Nguyễn Văn Q, Trần Ngọc G, Đoàn Quang L, Hoàng Duy Th, Cao Đăng T không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 20 giờ ngày 24/9/2017, Lương Đình Ch, Trần Xuân B, Đoàn Quang L, Hoàng Duy Th, Cao Đăng T, Nguyễn Văn Q ngồi uống nước tại nhà Trần Ngọc G ở thôn Trình Hoàng, xã Vũ Lễ, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thì Ch, B, L, Th, T và Q rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng bằng bài tú lơ khơ thắng thua bằng tiền. T đưa tiền và nhờ G đi mua hộ bộ bài tú lơ khơ, G đồng ý và đã đi mua một bộ bài tú lơ khơ 52 quân giá 5.000 đồng mang về để cho các đối tượng đánh bạc. Sau đó, Ch, B, L, Th, T và Q vào gian bếp nhà G ngồi xuống chiếu đã trải sẵn để đánh bạc dưới hình thức đánh liêng ăn tiền và thống nhất luật chơi. Trước khi chia bài mỗi người phải đặt cửa 10.000 đồng, người nào xét thấy có khả năng cao điểm nhất thì đặt thêm tiền, gọi là tố để cược với những người còn lại, những người khác xét thấy có khả năng cao điểm hơn thì tố thêm tiền, số tiền tố tối đa mỗi lượt là 100.000 đồng. Người nào cao điểm nhất sẽ được toàn bộ số tiền của những người khác đã đặt cược và số tiền tố thêm, đồng thời được chia bài. Trong khi các đối tượng đánh bạc thì G ngồi xem, Q chơi được một lúc bị thua hết tiền nên vay của G 800.000 đồng để tiếp tục đánh bạc, G ngồi xem một lúc thì đi ngủ. Đến khoảng 21 giờ 30 phút thì Th bị thua hết tiền nên ngồi xem Ch, B, L, T và Q đánh bạc. Các đối tượng chơi đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Kiến Xương bắt quả tang, thu tại chiếu bạc một bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 8.820.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận: Trần Xuân B, Trần Văn Q mỗi người sử dụng số tiền 2.000.000 đồng, Đoàn Quang L sử dụng số tiền 1.050.000 đồng, Hoàng Duy Th, Lương Đình Ch, Cao Đăng T mỗi người sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc.

Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2017/HSST ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Lương Đình Ch, Trần Xuân B, Nguyễn Văn Q, Đoàn Quang L, Hoàng Duy Th, Cao Đăng T, Trần Ngọc G phạm tội “Đánh bạc”.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 248; Điều 20; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 53 và Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Đình Ch 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ đi 04 ngày tạm giữ (từ ngày 25/9/2017 đến ngày 29/9/2017). Phạt bị cáo Ch 3.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Xuân B 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng; Nguyễn Văn Q, Trần Xuân G 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng; Xử phạt mỗi bị cáo Đoàn Quang L, Hoàng Duy Th 01 năm cải tạo không giam giữ. Xử phạt B, G mỗi bị cáo 5.000.000 đồng; xử phạt bị cáo Q 4.000.000 đồng; xử phạt bị cáo L 3.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước. Xử phạt bị cáo T 9.000.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26/12/2017 bị cáo Lương Đình Ch kháng cáo cho rằng mức hình phạt mà Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt bị cáo là quá nặng và bị cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay: Bị cáo Lương Đình Ch vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm án và hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo Ch đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lương Đình Ch: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 30 phút đến 22 giờ 30 phút ngày 24/9/2017 tại chỗ ở của Trần Ngọc G thuộc thôn Trình Hoàng, xã Vũ Lễ, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, các bị cáo Lương Đình Ch, Trần Xuân B, Đoàn Quang L, Hoàng Duy Th, Cao Đăng T, Nguyễn Văn Q đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng thắng thua bằng tiền với tổng số tiền các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc là 8.820.000 đồng, trong đó bị cáo Ch sử dụng số tiền để đánh bạc là 200.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Ch về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lương Đình Ch thấy: Hành vi phạm tôi cua bi cao là nguy hiểm gây nguy hại cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh tại địa phương mà còn là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như: mất hết tài sản, tan vỡ hạnh phúc gia đình... và là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Mặt khác, bị cáo Chất đã 01 lần bị Tòa án kết án về tội “Đánh bạc” , chưa được xóa án tích, nên lần này phạm tội phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tái phạm. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như vai trò của bị cáo, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình vì bố của bị cáo đã già yếu và mắc bệnh nặng, không có người phụng dưỡng, vợ thường xuyên đau ốm không có khả năng nuôi con, 02 con nhỏ. Xét thấy, tuy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tái phạm, nhưng bị cáo đươc hương hai tinh tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự quy đinh tai điểm g khoản 1 Điều 48 và điêm p khoan 1, khoản 2 Điêu 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Mặt khác, bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền ít nhất và có vai trò cuối trong vụ án.

Vì vậy, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù và phạt tiền 3.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước là có phần nghiêm khắc. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Ch, nhưng cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ch, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, giáo dục và sửa chữa sai lầm, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội và gia đình.

[4]. Về án phí: Bị cáo kháng cáo đươc chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy đinh cua phap luật

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị .

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lương Đình Ch. Sửa bản án sơ thẩm số 76/2017/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Lương Đình Ch.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248; Điều 20; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 và Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999:

- Xử phạt bị cáo Lương Đính Ch 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ đi 04 ngày tạm giữ (từ ngày 25/9/2017 đến ngày 29/9/2017).

- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Lương Đình Ch 3.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Đình Ch không phai chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 27/3/2018.


99
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 93/2018/HSPT ngày 27/03/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:93/2018/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về