Bản án 92/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 92/2018/HS-ST NGÀY 16/10/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2018/HSST ngày 10/8/2018 đối với bị báo:

- Họ tên: Lê Phương D sinh năm 1992 tại Cần Th (Theo giấy khai sinh, CMND sinh năm 1995); HKTT: ấp Ngãi Th, xã Thân Cửu Ngh, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Thợ điện; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: kinh ; Tôn giáo: không ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Phú Q (1954) và bà Nguyễn Thị Phương L (1959); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không; Tiền án: 02 lần; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/4/2018 và chuyển tạm giam đến nay.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

1/ Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp 1, xã Tam H, huyện ChâuTh, tỉnh Tiền Giang.

2/ Phan Thị Kim Ph, sinh năm 1996. HKTT: Thôn 2A, xã Hòa T, huyện Krông P, tỉnh Đ. Nơi ở hiện nay: ấp Long Th, xã Long A, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang.

3/ Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1959. Nơi cư trú: ấp Ngãi Th, xã ThânCửu Ngh, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang.

4/ Lê Phú Q, sinh năm 1954. Nơi cư trú: ấp Ngãi Th, xã Thân Cửu Ngh,huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang ( Bị cáo và những người làm chứng: Phan Thị Kim Ph, bà Nguyễn Thị Phương L, ông Lê Phú Q có mặt tại phiên tòa ; Người làm chứng Nguyễn Thị H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ, ngày 27/4/2018, Lê Phương D đang ở tại phòng trọ số7, nhà trọ Bình Dân thuộc ấp Long Th, xã Long A, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang. Lê Phương D đang tàng trữ 05 bịch nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi bịch có chứa tinh thể trong suốt, để trên nền gạch trong phòng trọ của D thuê.

Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ được:

- Một gói niêm phong bên trong có 05 bịch nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi bịch có chứa tinh thể trong suốt, bên ngày có chữ ký xác nhận của Lê Phương D;

- Một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy;

- Hai quẹt ga;

- Một bình ga mini hiệu BLUESKY;

- Một điện thoại di động màu đen mặt trước có ghi chữ Nokia.

- Tiền Việt Nam 2.000.000đồng là tiền cá nhân của Lê Phương D;

Theo kết luận giám định số 73/KLGĐ-PC54 ngày 28/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định: mẫu tinh thể bên trong năm gói nylon màu trắng được hàn kín, trong 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Lê Phương D, gởi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,7499gam loại Methamphetamine.

* Xử lý vật chứng: Ngày 09/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang đã giao trả cho Lê Phương D số tiền Việt Nam2.000.000đồng là tài sản cá nhân của bị cáo.

- Chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Th: Một gói niêm phong số73 ngày 28/4/2018, bên giao Giám định viên Nguyễn Thanh Tr, Trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L, bên nhận ông Lê Minh L của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, đã được niêm phong đóng dấu (là mẫu vật còn lại sau giám định); Một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; Hai quẹt ga màu trắng; Một bình ga mini hiệu BLUESKY; Một điện thoại di động màu đen mặt trước có ghi chữ Nokia cópin và sim, số IMEL1: 357288085910883, số IMEL2: 357288085910891.

Tại Cáo trạng số 80/CT- VKSCT ngày 09/8/2018, Bị cáo Lê Phương D bịViện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” căn cứ theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối tượng tên Thuận là người mua ma túy cho Lê Phương D, qua điều tra D khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của Thuận, CQĐT không làm việc được với Thuận nên không có cơ sở để xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Phương D khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 26/4/2018, bạn của bị cáo tên Thuận gọi điện hỏi bị cáo có mua ma túy khôngThuận mua dùm. Bị cáo đồng ý và nhờ Thuận mua dùm ma túy với số tiền 1.500.000đồng. Đến 21 giờ, Thuận gọi điện kêu bị cáo đến cầu Chợ Bưng thuộc xã Tam Hiệp để lấy ma túy. Bị cáo lấy 05 bịch ma túy đem về phòng trọ để cất giấu. Khoảng 12 giờ, ngày 27/4/2018, bị cáo đang ở tại phòng trọ số 7, nhà trọ Bình Dânthuộc ấp Long Th, xã Long A, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang. Bị cáo đang tàng trữ ma túy đựng trong 05 bịchnylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi bịch có chứa tinh thể trong suốt, để trên nền gạch trong phòng trọ của bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Phương D thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép 05 bịch là ma túy có trọng lượng là 0,7499gam, loại Methamphetamine; Bị cáo phạm tội khi có 02 tiền án chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự ;

- Về tôi danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phương D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự;

- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Phương D từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 27/4/2018.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động màu đen mặt trước có ghi chữ Nokia;

+ Tịch thu tiêu hủy : Một gói niêm phong số 73 ngày 28/4/2018, bên giao Giám định viên Nguyễn Thanh Tr, Trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L, bên nhận ông Lê Minh L của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, đã được niêm phong đóng dấu (là mẫu vật còn lại sau giám định); Một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; Hai quẹt ga màu trắng; Một bình ga mini hiệu BLUESKY;

Bị cáo Lê Phương D nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi của mình đã sai, thừa nhận hành vi phạm tội và hứa sẽ không tái phạm, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện đầy đủ các chứng cứ, lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Th, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.

 [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo Lê Phương D thừa nhận, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 05 bịch ma túy qua giám định có khối lượng 0,7499 gam là Methamphetamine. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, các chứng khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với cáo trạng truy tố cũng như kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Xét thấy hành vi của bị cáo có ý xem thường pháp luật; Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,7499 gam là Methamphetamine; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy; Khi thực hiện tội phạm bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự; Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, gây tác hại xấu cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm để có ma túy sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Phương D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng của người nghiện và là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, các tệ nạn xã hội và các căn bệnh nguy hiểm trong cộng đồng dân cư; Làm ảnh hưởng đến trật tự, an ninh ở địa phương. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét về nhân thân: Theo các tài liệu giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân ghi nhận Lê Phương D sinh năm 1995, nơi cư trú: ấp Ngãi Th, xã Thân Cửu Ngh, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên Lê Phương D thừa nhận do hoàn cảnh gia đình nên cha mẹ D không đăng ký khai sinh đúng năm sinh của D mà đăng ký năm 1995. Căn cứ vào danh chỉ bản, các tài liệu chứng cứ Cơ quan Điều tra thu thập được liên quan đến việc xác định tuổi của Lê Phương D. HĐXX đủ căn cứ xác định, Lê Phương D là người đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử về tội “Giao cấu với trẻ em” theo Bản án số 04/2013/HSST ngày 10/01/2013, có năm sinh đúng là năm 1992 và nơi cư trú: ấp Ngãi Th, xã Thân Cửu Ngh, huyện Châu Th, tỉnh Tiền Giang.

 [4] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và giao trả lại cho bị cáo số tiền 2.000.000đồng theo đúng quy định. HĐXX không xem xét lại.

- Xét các vật chứng khác hiện Chi cục THADS huyện Châu Th tạm giữgồm:

+ Một gói niêm phong số 73 ngày 28/4/2018, bên giao Giám định viên Nguyễn Thanh Tr, Trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L, bên nhận ông Lê Minh L của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, đã được niêm phong đóng dấu (là mẫu vật còn lại sau giám định) là vật cấm lưu hành; Một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; Hai quẹt ga màu trắng; Một bình ga mini hiệu BLUESKY không có giá trị. Căn cứ Điều 89; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tịch thu và tiêu hủy.

+ Một điện thoại di động màu đen mặt trước có ghi chữ Nokia có pin và sim, số IMEL1: 357288085910883, số IMEL2: 357288085910891 là tài sản bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy về tàng trữ. Căn cứ Điều 89; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

 [6] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất mức độ phạm tội; đặc điểm nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có cơ sở như đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Phương D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Về hình phạt: Phạt bị cáo Lê Phương D 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 27/4/2018.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 89; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động màu đen mặt trước có ghi chữ Nokia có pin và sim, số IMEL1: 357288085910883, số IMEL2: 357288085910891;

+ Tịch thu tiêu hủy : Một gói niêm phong số 73 ngày 28/4/2018, bên giao Giám định viên Nguyễn Thanh Tr, Trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều L, bên nhận ông Lê Minh Lcủa Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, đã được niêm phong đóng dấu (là mẫu vật còn lại sau giám định); Một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; Hai quẹt ga màu trắng; Một bình ga mini hiệu BLUESKY; (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, Tiền Giang ngày 07/9/2018)

- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Phương D phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


104
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 92/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:92/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về