Bản án 92/2017/DS-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp nợ hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 92/2017/DS-ST NGÀY 30/08/2017 VỀ TRANH CHẤP NỢ HỤI

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2017/TLST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2017 về “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2017/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp A, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Việt Th, sinh năm 1979. Địa chỉ: kpH, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, theo văn bản ủy quyền ngày 01/6/2017.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1972. Địa chỉ: khu phố B, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

- Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Bảo Q, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp B, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh Bến Tre, theo văn bản ủy quyền ngày 03/7/2017.

Anh T có mặt; anh Q vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2017, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 04/7/2017; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn anh Huỳnh Việt T trình bày :

Nguyên trước đây bà L có tham gia chơi nhiều dây hụi khác nhau do chị Nguyễn Mỹ H làm chủ hụi. Cụ thể như sau:

Dây hụi thứ 1: Mệnh giá 2.000.000đồng, khởi khui vào ngày 28/10/2015AL, tham gia chơi 01 phần, tổng cộng 22 phần, chị H nhận nợ số tiền là 43.110.000đồng.

Dây hụi thứ 2: Khởi khui ngày 08/6/2016AL, mệnh giá 10.000.000đồng, chơi 01 phần, tổng cộng 22 phần, bà H nhận nợ số tiền là 45.466.000đồng.

Dây hụi thứ 3: Khởi khui vào ngày 20/6/2016AL, mệnh giá 3.000.000đồng, chơi 02 phần, tổng cộng 22 phần, chị H xác nhận nợ số tiền là 46.180.000đồng.

Dây hụi thứ 4: Khởi khui vào ngày 05/7/2016AL, mệnh giá 3.000.000đồng, chơi 02 phần, tổng cộng 25 phần, chị H nhận nợ số tiền là 41.840.000đồng. Tổng cộng số tiền là 176.590.000đồng.

Dây hụi thứ 5: Khởi khui vào ngày 15/6/2016AL, mệnh giá 2.000.000đồng, chơi 01 phần, tổng cộng 22 phần, chị H nhận nợ số tiền là 10.000.000đồng. Tổng cộng các dây hụi với số tiền là 186.590.000đồng.

Ngày 20/12/2016AL thì chị H tuyên bố vỡ hụi và sau đó vào ngày 24/12/2016AL nhằm ngày 21/01/2017 DL và ngày 28/12/2016AL thì chị H và bà L kết hụi thì đã ký xác nhận còn nợ hụi của bà L tổng số tiền 180.590.000 đồng đã trừ đi số tiền hụi chết của bà Lệ là 6.000.000đồng. Đến ngày 04/7/2017 thì bà L có làm đơn xin rút một phần khởi kiện đối với anh Nguyễn Ngọc C chỉ kiện yêu cầu một mình chị Nguyễn Mỹ H trả lại số tiền 180.590.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn chị Nguyễn Mỹ H trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, sau đó vào ngày 03/7/2017 thì chị H đã ủy quyền cho anh Nguyễn Bảo Q tham gia tố tụng, Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Q nhiều lần nhưng anh Q vẫn vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của chị H, đồng thời cũng không thể tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Mỹ H là bị đơn, Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để công bố chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng chị H không đến Tòa án, sau đó đến ngày 03/7/2017 thì chị H đã làm giấy ủy quyền cho anh Nguyễn Bảo Q tham gia tố tụng, Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ anh Q nhiều lần đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng anh Q vẫn không đến Tòa án. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn là anh Nguyễn Bảo Q.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trần Thị L khởi kiện bị đơn chị Nguyễn Mỹ H. Hiện nay, chị Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1972, có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại số 52B3, khu phố B, phường PK, thành phố BT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ngày 17/3/2017 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn anh T xin rút lại phần yêu cầu anh Nguyễn Ngọc C cùng trách nhiệm liên đới với chị H. Nay bà L chị yêu cầu một mình chị H trả lại số tiền 180.590.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Ngọc C là phù hợp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ theo giấy xác nhận nợ ngày 24/12//2016AL và ngày 28/12/2016AL. Yêu cầu của bà L là tranh chấp nợ hụi được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 14 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ.

[4] Về nội dung tranh chấp: Vào ngày 24/12/2016AL và ngày 28/12/2016AL , chị Nguyễn Mỹ H có lập giấy xác nhận nợ cho bà Trần Thị L tổng số tiền là 180.590.000đồng (Một trăm tám mươi triệu năm trăm chín mươi nghìn) đồng, việc góp hụi hai bên hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án công nhận hợp đồng góp hụi giữa bà Trần Thị L và chị Nguyễn Mỹ H là có thật và hợp pháp.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L yêu cầu chị Nguyễn Mỹ H trả số tiền là 180.590.000đồng (Một trăm tám mươi triệu năm trăm chín mươi nghìn) đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Nguyễn Bảo Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng căn cứ theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn anh Huỳnh Việt T và căn cứ giấy xác nhận nợ ngày 24/12/2016AL và ngày 28/12/2016 AL của chị H, có chữ ký tên của chị Nguyễn Mỹ H có đủ cơ sở để khẳng định bà Trần Thị L đã tham gia góp hụi do chị Nguyễn Mỹ H làm chủ hụi với số tiền 180.590.000đồng. Việc chị H không thực hiện giao tiền hụi cho bà L là đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi được quy định tại Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ. Do đó, bà Trần Thị L đã khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Mỹ H phải thanh toán số tiền hụi là 180.590.000đồng là phù hợp quy định tại Điều 14 Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ.

[6] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với chị Nguyễn Mỹ H về việc yêu cầu trả số tiền hụi còn nợ lại là 180.590.000 (Một trăm tám mươi triệu năm trăm chín mươi nghìn) đồng.

[7] Về lãi suất: Do các bên đương sự không có thỏa thuận lãi suất và bà Trần Thị L không có yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên là tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chị Nguyễn Mỹ H phải chịu án phí của số tiền 180.590.000đồng x 5% = 9.029.500 (chín triệu không trăm hai mươi chín nghìn năm trăm) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 471 và khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L đối với bị đơn chị Nguyễn Mỹ H. Buộc chị Nguyễn Mỹ H có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị L số tiền là 180.590.000 (Một trăm tám mươi triệu năm trăm chín mươi chín mươi nghìn). Ghi nhận bà Trần Thị L không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền trên.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc C.

- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%: Chị Nguyễn Mỹ H phải chịu là 9.029.500 (Chín triệu không trăm hai mươi chín nghìn năm trăm) đồng. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Trần Thị L số tiền là 4.515.000 (Bốn triệu năm trăm mười lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010391 ngày 03 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Nguyên đơn bà Trần Thị L có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng chị Nguyễn Mỹ H vắng mặt tại phiên tòa cũng được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


126
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 92/2017/DS-ST ngày 30/08/2017 về tranh chấp nợ hụi

Số hiệu:92/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về