Bản án 91/2021/HS-PT ngày 21/01/2021 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 91/2021/HS-PT NGÀY 21/01/2021 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 21 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Võ V và đồng phạm về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 85/2020/HSST ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Võ V (L), sinh ngày: 10/3/1999 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: xã V, huyện V, Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; cha: Võ D, sinh năm: 1967; mẹ: Đặng Thị L, sinh năm: 1969; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa.Có mặt.

2. Phạm Thanh N, sinh ngày: 18/9/2002(thời điểm phạm tội 16 tuổi 10 tháng 10 ngày); nơi sinh: tại tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: xã V, huyện V, Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; cha: Phạm Văn H, sinh năm: 1973; mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm:

1976; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa. Bị cáo có mặt.

3. Lê Thanh P, sinh ngày: 28/8/1995 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: xã V, huyện V, Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; cha: Lê Văn T, sinh năm: 1952; mẹ: Phan Thị Kim C, sinh năm: 1960; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 31/7/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa. Bị cáo có mặt.

4. Phạm Văn B (L), sinh ngày: 10/5/2000 tại Khánh Hòa; nơi cư trú: huyện V, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; cha: Phạm Văn T, sinh năm: (không rõ); mẹ: Lê Thị C, sinh năm: 1959; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo:

Ông Huỳnh Văn T - Luật sư Công ty Luật TNHH một thành viên A thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho các bị cáo, Võ V, Phạm Thanh N, Lê Thanh P, Phạm Văn B theo yêu cầu của Tòa án. Luật sư Huỳnh văn T vắng mặt và các bị cáo từ chối Luật sư bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án ( có văn bản từ chối Luật sư của các bị cáo) Bà Nguyễn Thị Anh T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc. T2 tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh N theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị cáo. Có mặt.

Người đại diện hợp phảp của bị cáo Phạm Thanh N có kháng cáo: ông Phạm Văn H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1976 (cha, mẹ của bị cáo N); trú tại: xã V, huyện V, Khánh Hòa. Có mặt.

* Người bị hại:

1. Anh Lương Ngọc H, sinh năm 1998 (đã chết) 2. Anh Lê D, sinh năm 1997; trú tại: Khánh Hòa.Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Lương Ngọc H: Ông Lương Ngọc H, sinh năm 1970 và bà Trần Thị B, sinh năm 1975 (cha, mẹ của bị hại H);

Đều trú tại: tỉnh Khánh Hòa. Ông Lương Ngọc H có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra trong vụ án còn có 8 (tám) bị cáo khác, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h 00 phút ngày 28/07/2019, Nguyễn Hắc L rủ Võ V, Lê Thành H1, Phạm Thanh N, Nguyễn Hữu B, Lê Thanh P, Trần Văn T, Ngô Nguyễn D Đ, Phạm Văn B, Võ Thành T2, Võ Văn L và Lê Thanh H2 đi tìm đánh nhóm thanh niên đã chặn xe lấy tài sản của người nhà L ở phường N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, tất cả đông ý.

Đến khoảng 22h 00 phút cùng ngày, cả nhóm tập trung tại nhà của V tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, V chuẩn bị 07 cây nọc (làm bằng kim loại, dài khoảng 03m, có một đầu nhọn); B, Đ, T2 chuẩn bị 04 cây nọc; L chuẩn bị 02 cây rựa và 01 cây kiếm; H1 chuẩn bị 01 dao bấm để đi đánh nhau. Do không biết chính xác nhóm thanh niên nào đã chặn xe lấy tài sản của người nhà L nên L nói cả nhóm gặp nhóm thanh niên nào ở phường N, xã N, thị xã N là đánh nhóm đó thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79V1 -282.07 chở V cầm 01 cây nọc và N cầm 01 cây nọc. T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79VI- 045.07 chở B cầm 01 cây nọc và Đ cầm 01 cây nọc. L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 78G 1-340.43 chở L cầm 01 cây rựa và B cầm 01 cây rựa. H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79V1-297.19 chở T cầm 01 cây kiếm và P cầm 01 cây nọc. Khi đến khu vực X thuộc phường N, thị xã N, nhóm L phát hiện Nguyễn Văn H3 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Tấn C thì L hô cả nhóm đuổi theo H3 và C nhưng không kịp. Lúc này, N nói với cả nhóm đi vào đường Hòn Khói về hướng xã N, thị xã N để tìm H3 và C.

Khi đến Tổ dân phố T, xã N, thị xã N, nhóm L thấy Lương Ngọc H, Lê D, Lê Đình Thanh Q và Đỗ Ngọc N đang ngồi nhậu trước Đình văn hóa thôn T thì cả nhóm dừng xe lại.

Thấy nhóm của L dừng xe lại, D đứng dậy đi tới hỏi: Phải dân Rớ không, thì có người trong nhóm L nói: Mày muốn gì ? Thấy nhóm L cầm hung khí nên D, Q và N bỏ chạy còn H vẫn ngồi tại chỗ. V xuống xe chạy bộ, L chở L và B, H2 chở T và P đuổi theo D, Q, N. P phóng cây nọc trúng mông của D làm D ngã xuống đường. V cầm nọc, L cầm rựa, T cầm kiếm, B cầm rựa xông vào đâm chém D, P nhặt lại cây nọc xông vào đâm trúng vùng dương vật của D làm D nằm bất động trên đường. Lúc này, T2 chở B và Đ cùng với H1, N đến chỗ H ngồi và H1 hỏi H: Mày phải nhóm tụi nó không ? H nói: Tụi mày muốn cái gì, thích chơi không, rồi đứng dậy thì N cầm nọc xông vào đâm một nhát trúng vùng dương vật của H, B cầm nọc đâm 01 nhát trúng cẳng tay trái của H làm H ngã, thì H1 cầm dao bấm xông vào đâm 02 nhát trúng lưng H. H vùng bỏ chạy ra đường Hòn Khói, N và Đ đuổi theo tiếp tục đâm nhưng không biết trúng vị trí nào trên người H. H bỏ chạy được một đoạn thì gục ngã xuống đường.

Sau khi đánh H và D, nhóm L lên xe máy bỏ chạy về nhà V rồi chia nhau cất giấu hung khí: V cất 07 cây nọc, L cất 02 cây rựa và 01 cây kiếm, H1 cất 01 con dao bấm, B đưa 04 cây nọc cho Nguyễn Ngọc G Sau đó, cả nhóm bỏ trốn. Còn H và D được người dân đưa đến Bệnh viện Đa khoa khu vực N cấp cứu. Trên đường đến Bệnh viện H tử vong. Lê D được điều trị đến ngày 07/08/2019 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 429/TT-TTPY ngày 01/08/2019 của T2 tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của Lương Ngọc H: “Suy tuần hoàn do vết thương xuyên thấu ngực gây thủng phổi; hoàn toàn phù hợp với tác nhân là vật sắc nhọn; chiều hướng từ trên xuống dưới, trái qua phải, ngoài vào trong. Kèm theo nhiều vết thủng da, rách da, sây sát da”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/TgT ngày 06/03/2020 của T2 tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận thương tích của Lê D: Vùng mông phải có 01 vết sẹo kích thước 01cm X 0.3cm, sẹo khô tốt; Vùng gối phải có 01 vết sẹo kích thước 03cm X 0.2cm, sẹo khô tốt; Vùng bìu phải 00 01 vết sẹo kích thước 4.5cm X 0.2cm, sẹo khô tốt; Vùng bìu trái có 01 vết sẹo kích thước 03cm X 0.2cm, sẹo khô tốt; Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê D là: 03%.

Vật chứng vụ án: 11 cây nọc, 02 cây rựa, 01 cây kiếm, 01 dao bấm, 01 USB.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 85/2020/HS-ST ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Võ V, Phạm Thanh N, Lê Thanh P, Phạm Văn B.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Thanh N,, Lê Thanh P, Phạm Văn B.

Áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ V, Lê Thanh P, Phạm Văn B, Áp dụng Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Thanh N. Xử phạt:

- Bị cáo Võ V 19 (mười chín) năm tù về tội "Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt tạm giam 30/7/2019.

- Bị cáo Phạm Thanh N 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt tạm giam 30/7/2019.

- Bị cáo Lê Thanh P 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt tạm giam 31/7/2019.

- Bị cáo Phạm Văn B 13 (mười ba) năm 06 tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt tạm giam 31/7/2019.

Ngoài ra bản án còn quyết định về phần hành phạt đối với các bị cáo khác, phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 09/9/2020 bị cáo Võ V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 11/9/2020 bị cáo Lê Thanh P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 14/9/2020 đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh N là ông Phạm Văn H và bà Nguyễn Thị P ( cha và mẹ ruột của bị cáo)kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 14/9/2020 bị cáo Phạm Văn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng khẳng định rằng:

trong giai đoạn phúc thẩm các bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường cho phía bị hại và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, đại diện hợp pháp của bị hại đã thừa nhận việc bồi thường và yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ V, Lê Thanh P, Phạm Văn B và kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Bà Nguyễn Thị Anh T, Trợ giúp viên pháp lý-Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh N đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm cho bị cáo N một phần hình phạt, vì trong giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Lê D 2.300.000 đồng theo bản án sơ thẩm và bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại Lương Ngọc H 40.000.000 đồng trên tổng số 72.000.000 đồng theo bản án sơ thẩm; phía bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, xem xét ý kiến của Luật sư, quan điểm của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay các bị cáo thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt. Ông Phạm Văn Hùng là đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn N giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai củà người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên có cơ sở xác định: Khoảng 22h 00 phút ngày 28 tháng 7 năm 2019, trước Đình văn hóa thôn T thuộc Tổ dân phố T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa các bị cáo Nguyễn Hắc L, Võ V, Lê Thành H1, Phạm Thanh N, Nguyễn Hữu B, Lê Thanh P, Trần Văn T, Ngô Nguyễn D Đ, Phạm Văn B, Võ Thành T2, Võ Văn L và Lê Thanh H2 đã cầm nọc, rựa, kiếm, dao dâm, chém anh Lương Ngọc H và anh Lê D làm anh H chết và anh D bị thương.

Theo kết luận giám định pháp y về nguyên nhân tử vong của anh Lương Ngọc H: “Suy tuần hoàn do vết thương xuyên thấu ngực gây thủng phổi; hoàn toàn phù hợp với tác nhân là vật sắc nhọn; chiều hướng từ trên xuống dưới, trái qua phải, ngoài vào trong. Kèm theo nhiều vết thủng da, rách da, sây sát da Theo kết luận giám định pháp y về thương tích của Lê D: Vùng mông phải và vùng gối phải có 01 vết sẹo; vùng bìu phải có 01 vết và vùng bìu trái có 01 vết sẹo. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê D là: 03%.

Với hành vi phạm tội đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Võ V, Phạm Thanh N, Lê Thanh P, Phạm Văn B về tội “ Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo và của đại diện hợp pháp của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm do 12 bị cáo thực hiện, giữa các bị cáo có sự bàn bạc, chuẩn bị hung khí, phương tiện đi đánh nhau và thống nhất ý chí cùng nhau hành động trong quá trình thực hiện tội phạm.

- Đối với bị cáo Võ V: Là người thực hành tích cực, bị cáo đã tiếp nhận ý chí của bị cáo L và rủ các bị cáo N, H1, T2 đi đánh người khác, đồng thời bị cáo đã chủ động chuẩn bị hung khí (7 cây nọc) để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã cùng với các bị cáo L, P, T, B- đuổi theo đánh anh D, bản thân bị cáo đã cầm nọc đâm vào đùi anh D.

- Đối với các bị cáo Lê Thanh P, Phạm Văn B, là những người thực hành tích cực, bị cáo P cầm nọc đâm trúng vào mông và vùng bìu của anh D.

- Đối với bị cáo Phạm Thanh N, bị cáo N cầm nọc đâm 1 nhát trúng vào vùng bìu của anh H. Anh H bỏ chạy thì bị cáo N và bị cáo Đ còn tiếp tục đuổi theo đâm.

Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, như: các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo B, N đã bồi thường một phần cho bị hại; bị cáo Phạm Thanh N là người chưa thành niên. Sau khi xem xét tính chất, mức độ của hành vi và hậu quả của vụ án, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ nên Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên mức án thoả đáng đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, trong giai đoạn phúc thẩm các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ông Lương Ngọc H là đại diện hợp pháp của bị hại Lương Ngọc H thừa nhận việc bồi thường của các gia đình bị cáo và đề nghị Toà phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Thanh N khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi ( mới 16 tuổi, 10 tháng, 10 ngày). Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh N, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Từ những vấn đề phân tích và lập luận trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng do có tình tiết mới ở giai đoạn phúc thẩm nên chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh N, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ V ( L), bị cáo Lê Thanh P, bị cáo Phạm Văn B ( L), và kháng cáo của ông Phạm Văn Hùng bà Nguyễn Thị Phú là đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn N, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hỉnh sự đối với các bị cáo Võ V, Lê Thanh P, Phạm Thanh N, Phạm Văn B; Áp dụng điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thanh N.

Xử phạt:

1. Bị cáo Võ V ( tên gọi khác: L) 18 (mười tám) năm tù về tội "Giết người”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ, tạm giam 30/7/2019.

2. Bị cáo Phạm Thanh N 13 (mười ba) năm tù về tội "Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ, tạm giam 30/7/201 3.Bị cáo Lê Thanh P 13 (mưòi ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ, tạm giam 31/7/2019.

4. Bị cáo Phạm Văn B( tên gọi khác L) 12 (mười hai) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày tạm giữ, tạm giam 31/7/2019.

Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Võ V, Phạm Thanh N, Lê Thanh P, Phạm Văn B không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


88
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2021/HS-PT ngày 21/01/2021 về tội giết người

Số hiệu:91/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về