Bản án 91/2019/HSST ngày 30/11/2019 về sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 91/2019/HSST NGÀY 30/11/2019 VỀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN TỔ CHỨC

Trong các ngày 29 và ngày 30 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Hồ Văn N, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1957 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ dân phố L H 2B, phường T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề ngH: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ T (chết) và bà Trần Thị C (chết);Vợ: Đỗ Thị T1, có 03 con: lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/01/2019 đến ngày 24/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công T2, L sư Văn phòng L sư Nguyễn Công T2 thuộc Đoàn L sư tỉnh Quảng Ngãi bào chữa cho bị cáo, có mặt.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Bùi Nguyên L, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 10, phường T P, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Số 55/52 đường T C, tổ 20, phường C L, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Đắc T3, sinh năm 1969; địa chỉ: Đội 1, thôn TĐ, xã TT, huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

3. Ông Phạm H, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn T H, xã B Đ, huyện B S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

4. Ông Lê Văn H1, sinh năm 1966; địa chỉ: Đội 6, thôn X Y, xã B H, huyện B S, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

5. Ông Đặng Văn B, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T A, xã B T, huyện B S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

6. Ông Dương Văn C, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố L H 1A, phường T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

7. Ông Trần Quang Đ, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ 10, phường T H Đ, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

8. Ông Đặng T4, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 16, phường T H Đ, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

9. Ông Dương Quốc T5, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố TT Đ A, phường T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

10. Ông Dương Văn T6, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố 9B, phường T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

11. Ông Dương Văn T7, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố T T T A, phường T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

12. Ông Nguyễn N T8, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố L H, 2B, phường T, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

13. Ông Đinh Văn T4, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn Phú B, xã TC, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

14. Ông Vũ Chí T9, sinh năm 1983; địa chỉ: 30/14 Khu phố Đ, phường V P, thị xã T A, tỉnh B Dương, vắng mặt.

15. Bà Dương Thị Quốc T10, sinh năm 1975; địa chỉ: 438 Quốc lộ 1A, phường B H Hòa B, quận T B, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

16. Ông Hoàng Văn B1, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 9, thôn H1 T, xã G T, huyện G T1, tỉnh Nam Định, vắng mặt.

17. Ông Lương Văn N, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm 3, xã X T, huyện X T, tỉnh Nam Định, vắng mặt.

18. Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm 8, xã X T, huyện X T, tỉnh Nam Định, vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Trần T H1, sinh năm 1972; địa chỉ: 835 đường Q T, phường N C, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2. Ông Lý Minh V, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn 7, xã N L, huyện T N, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/01/2019, tại nhà của Hồ Văn N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi tiến hành kiểm tra, bắt quả tang N đang sử dụng giấy đăng ký xe mô tô, xe máy giả số 007989, biển số 60Y3 -6562 cấp ngày 07/7/2007, để giao dịch bán xe ba bánh mang biển số 60Y3 – 6562 cho anh Bùi Nguyên L. Tang vật thu giữ: Tiền mặt: 20.000.000 đồng, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 007989, biển số 60Y3 -6562 cấp ngày 07/7/2007, 01 xe ba bánh màu xanh biển số 60Y3 -6562. Tiến hành khám xét khẩn cấp địa điểm kinh doanh của ông N, cơ quan điều tra còn thu giữ 03 xe ba bánh, 02 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy gồm: 61L6-9513, 61L6-6129 và một số tang vật liên quan.

Tại Kết luận giám định số 152/KLGĐ-PC09 ngày 23/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: 03 giấy “Đăng ký xe mô tô, xe máy” biển số: 60Y3 -6562, 61L6-9513, 61L6-6129 đều là giả.

Tại cơ quan điều tra, Hồ Văn N khai nhận: Năm 2001, Hồ Văn N đăng ký kinh doanh lần đầu với ngành, nghề kinh doanh: Mua bán sửa chữa máy móc, phụ tùng thiết bị động cơ tại thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh (nay là tổ dân phố L H 2B, phường T, thành phố Quảng Ngãi) đến ngày 29/5/2018 đăng ký thay đổi lần thứ 4 chuyên về kinh doanh mua bán sửa chữa máy móc, phụ tùng thiết bị xe động cơ; mua bán sành sứ, cây kiểng. Năm 2015, Hồ Văn N tìm hiểu trên mạng Internet biết xe ba bánh được chào bán với giá rẻ ở các tỉnh phía Nam nên Hồ Văn N đã sử dụng số điện thoại của mình là 0946.060.394 liên hệ với chủ các số điện thoại trên mạng để thỏa thuận việc mua bán xe ba bánh với phương thức như sau: Lúc đầu chưa quen biết thì sau khi thỏa thuận giá xong những người bán xe ba bánh ở các tỉnh phía Nam sẽ cho N số tài khoản ngân hàng để N chuyển tiền cọc trước cho họ khoảng từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng rồi họ sẽ liên lạc với xe khách chạy tuyến Quảng Ngãi là nhà xe Huy H1 (công ty trách nhiệm hữu hạn Huy H1 ở phường NC, thành phố Quảng Ngãi) và nhà xe N K ở số 06/06 đường QT, phường L H P, thành phố QNg để gửi xe ba bánh kèm theo Giấy đăng ký xe và chìa khóa xe (bỏ trong thùng kẽm của xe ba bánh) về Quảng Ngãi cho Hồ Văn N rồi N sẽ thanh toán số tiền còn lại cho chủ xe khách (chủ xe khách thu hộ). Sau một thời gian mua bán uy tín thì khi thỏa thuận giá xong N chuyển thẳng tiền mua xe ba bánh vào tài khoản của những người này rồi họ sẽ gửi xe ba bánh về cho N bằng xe khách hoặc họ gửi xe về cho N bán trước, bán được xe N trả cho họ sau bằng cách chuyển khoản tại ngân hàng. Hồ Văn N mua xe ba bánh và phụ tùng xe ba bánh của những người sau: Ông Hoàng Văn B1; ông Vũ Chí T9; ông Lương Văn N; ông Trịnh Văn H; bà Dương Thị Quốc T10. Việc mua, bán xe ba bánh giữa Hồ Văn N và số đối tượng bán xe trên không lập hợp đồng mua bán hay viết giấy bán tay. Hồ Văn N biết Giấy đăng ký xe do các đối tượng bán xe gởi về cho N là giả do khi N hỏi thì họ nói với N “Giấy này không thật N không đổi sang biển số 76 tỉnh Quảng Ngãi được” vì vậy Hồ Văn N biết các giấy này là giả nhưng vì hám lợi N vẫn mua xe ba bánh kèm theo giấy đăng ký xe giả về bán lại để kiếm lời. Khi bán xe ba bánh cho khách hàng thì Hồ Văn N giao xe có gắn biển số, kèm theo giấy đăng ký mô tô, xe máy nhưng không xuất hóa đơn hay lập hợp đồng mua bán. Khách hàng có hỏi N tại sao các giấy đăng ký xe đứng tên chủ sở hữu của người khác thì N nói “Cứ C giấy tờ này mà chạy, khi bị Cảnh sát giao thông hỏi thì đưa cho họ xem là họ cho đi” hoặc “Thông cảm cho đi”, “ Mua thì mua, không mua thì thôi”, “Bán cho người trước sao, bán cho người sau vậy”. Hồ Văn N bán xe ba bánh nguyên chiếc (đã được lắp ráp sẵn) có gắn biển số xe kèm theo giấy đăng ký xe với giá 35.000.000 đồng (loại có ben) và 30.000.000 đồng (loại không ben). Có khi những người bán xe gửi các bộ phận, linh kiện rời của xe ba bánh, kèm biển số xe và giấy đăng ký mô tô, xe máy có sẵn để về N tự lắp ráp. Đối với những trường hợp này thì họ sẽ giảm số tiền bán xe 500.000đồng/chiếc. Mỗi chiếc xe ba bánh Hồ Văn N bán ra N thu lợi 900.000 đồng/chiếc. Với phương T9, thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến tháng 1/2019, Hồ Văn N đã bán tổng cộng 354 xe ba bánh với tổng số tiền thu vào là 12.766.650.000 đồng nhưng không ghi cụ thể mỗi chiếc xe mua vào bao nhiêu tiền, bán ra bao nhiêu tiền, bán cho những ai, ở đâu. Qua các tài liệu thu thập được tại hệ thống các ngân hàng thì trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến tháng 01/2019, Hồ Văn N đã nhiều lần chuyển tiền để mua xe ba bánh và phụ tùng xe các loại nhưng không xác định được cụ thể số tiền N chuyển để mua xe ba bánh là bao nhiêu vì mỗi lần chuyển tiền Hồ Văn N chỉ ghi nội dung “N chuyển tiền”. Cụ thể:

-Từ năm 2015 đến năm 2018, Hồ Văn N đã 86 lần chuyển tiền vào số tài khoản 5500205666425 mang tên Vũ Chí T9 mở tại Ngân hàng Nông ngH và phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh B Dương với tổng số tiền 3.675.950.000 đồng.

-Từ năm 2018 đến đầu năm 2019, Hồ Văn N đã 35 lần chuyển tiền vào số tài khoản 165758719 mang tên Dương Thị Quốc T10 mở tại Ngân hàng ACB – Phòng giao dịch Gò Mây, thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền 1.250.015.000 đồng.

-Từ năm 2016 đến năm 2018: Hồ Văn N đã 55 lần chuyển tiền vào số tài khoản 220856309 mang tên Trịnh Văn H mở tại Ngân hàng ACB – Phòng giao dịch Gò Mây, thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền 2.096.950.000 đồng.

-Từ năm 2017 đến đầu năm 2019: Hồ Văn N đã 24 lần chuyển tiền vào số tài khoản 0501000129932 mang tên Lương Văn N mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh B1 Sài Gòn với tổng số tiền 1.437.700.000 đồng -Từ năm 2015 đến năm 2016, Hồ Văn N đã 78 lần chuyển tiền vào số tài khoản 176949539 mang tên Hoàng Văn B1 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần ACB với tổng số tiền 4.217.740.000 đồng. Tổng số tiền Hồ Văn N đã chuyển: 12.678.355.000 đồng.

Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập thêm 08 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy của người dân khai đã mua xe ba bánh kèm theo giấy tờ xe tại của hàng ông Hồ Văn N, gồm: 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trần Quốc Chuẩn, số 021379; biển số 61L7-1320; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Bá Hoàng, số 007989; biển số 60Y2-0125; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Văn Lịch, số 015685; biển số 60S1-0225; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Đặng Văn Quang, số 013312; biển số 60Y2-9703; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Huỳnh Minh Xuân, số 015289; biển số 60P6-0684; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Hữu Phước, số 015651; biển số 61L7-0756; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Đỗ Thị Tuyết Mai, số 015274; biển số 61L8-7316; 01 Giấy đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Hữu Nhật, số 015274; biển số 61L8-3716. Tại kết luận giám định số 145/KLGĐ-PC09 ngày 21/01/2019 và số 469/KLGĐ-PC09 ngày 10/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: 08 Giấy đăng ký mô tô, xe máy trên đều là giả.

Quá trình điều tra, Hồ Văn N khai nhận có bán xe ba bánh cho rất nhiều người N không nhớ những người mua là ai, ở đâu, bán với giá tiền bao nhiêu, mà chỉ nhớ một số người đã đến mua xe ba bánh gồm:

-Năm 2017, Hồ Văn N đã bán xe bánh biển số 61L8-7316 kèm giấy đăng ký xe cho ông Dương Văn T6 với giá: 35.000.000 đồng.

-Năm 2017, Hồ Văn N đã bán xe ba bánh biển số 60Y2-0125 kèm giấy đăng ký xe cho ông Đinh Văn T4 với giá gần 30.000.000 đồng.

-Năm 2016, Hồ Văn N đã bán xe ba bánh biển số 61L8-3716 kèm giấy đăng ký xe cho ông Nguyễn N T8 với giá 31.000.000 đồng.

-Ngày 29/1/2019 bán xe ba bánh biển số 60Y3-6562 kèm giấy đăng ký xe cho ông Bùi Nguyên L với giá 38.000.000 đồng nhưng chưa kịp giao xe và giấy đăng ký thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, quá trình điều tra một số người sau đã khai nhận mua xe ba bánh của ông Hồ Văn N, cụ thể:

-Năm 2015, Hồ Văn N đã bán xe ba bánh biển số 61L7-1320 kèm giấy đăng ký xe cho ông Dương Văn T7 với giá trên 30.000.000 đồng.

-Năm 2015, Hồ Văn N bán xe ba bánh biển số 61L7-0756 kèm giấy đăng ký xe cho ông Đặng T4 với giá 32.000.000 đồng.

-Vào tháng 11 hay tháng 12/2014 (âm lịch), Hồ Văn N bán xe ba bánh biển số 60Y2-9703 kèm giấy đăng ký xe cho ông Trần Quang Đ với giá 38.000.000 đồng.

-Năm 2015, Hồ Văn N bán xe ba bánh biển số 60S1-0225 kèm giấy đăng ký xe cho ông Dương Quốc T5 với giá 44.500.000 đồng.

-Năm 2015, Hồ Văn N bán xe ba bánh biển số 60P6-0684 kèm giấy đăng ký xe cho ông Dương Văn C với giá 35.000.000 đồng.

Sau khi khách hàng mua xe đưa tiền đủ thì N giao xe kèm theo Giấy đăng ký mô tô, xe máy của chiếc xe đó cho họ. Tuy nhiên, khi bị Cảnh sát giao thông thành phố Quảng Ngãi thu giữ các giấy đăng ký xe ba bánh thì những người này đã bán xe ba bánh cho những người khác (không rõ địa chỉ) N Cơ quan điều tra không thu hồi được. Các ông Nguyễn Đắc T3; Đặng T4; Phạm H; Lê Văn H1 khai nhận họ có đến mua xe ba bánh tại cửa hàng của N nhưng sau thời gian ngắn sử dụng thì xe liên tục bị hư hỏng, thay thế phụ tùng tốn kém; bên cạnh đó họ đều không có bằng lái xe ba bánh (hạng A3) và họ cũng biết quy định của Chính phủ cấm lưu thông xe ba bánh N họ đã bán xe ba bánh cho người khác (không rõ nhân thân lai lịch của người mua). Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ được xe và các Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy của 04 ông này.

Như vậy, qua tài liệu thu thập được có cơ sở xác định Hồ Văn N đã bán tổng cộng 12 chiếc xe ba bánh cho khách hàng (cơ quan điều tra đã làm việc được), mỗi xe N thu lợi số tiền 900.000 đồng, tổng số tiền N đã thu lợi là 10.800.000 đồng. Đối với 354 xe ba bánh bị can Hồ Văn N khai bán từ năm 2015 đến tháng 01/2019 được ghi trong quyển sổ màu đen bìa in chữ Sacombank, Cơ quan điều tra chỉ xác định được 12 người mua nhưng không thu hồi được xe vì tất cả họ đã bán không còn sử dụng nữa, còn lại 342 xe ba bánh còn lại bị can N không nhớ nhân thân lai lịch của những người mua N Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, điều tra, đề nghị xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 03/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Hồ Văn N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 341, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ L hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Văn N từ 06 đến 09 tháng tù giam. Về xử lý vật chứng: Đối với các xe ba bánh màu xanh hiệu: Loncin mang biển kiểm soát 61L6-9513, số máy LX163ML “RC041042”; Yinxiang mang biển kiểm soát 60X2-7028, số máy 162MK-2 “1F008837”; Yinxiang mang biển kiểm soát 61L6-6129, số máy 167MM-2 “15001236”; Loncin mang biển kiểm soát 60Y3-6562, số máy LX163FMK “RC048282” và 01 khung sườn gắn máy xe ba bánh màu đen không có biển kiểm soát, số khung HKZ-010210, số máy 162MK-2 “1F010606”; 01 lốc máy hiệu Loncin -số LX163FML-RC032179; 01 lốc máy hiệu Loncin -số LX162FMK-RC019034; 03 bộ nhún ty phuột (màu đen: 02; màu trắng: 01); 07 nệm tựa lưng màu xanh; 17 yên xe màu đen; bốn xe ba bánh là vật chứng, phương tiện không được phép hoạt động, lưu hành vận tải và các phụ tùng bị cáo dùng để phục vụ việc lắp ráp, thay mới, sửa chữa cho các xe ba bánh, bị cáo không yêu cầu nhận lại đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/11/2019 giữa Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi. Đối với 22 tờ giấy mua hàng phụ tùng được đánh số thứ tự từ 01 đến 22; 02 tờ giấy nộp tiền ngày 27/11/2018, ngày 11/12/2018 người nộp tiền Hồ Văn N (Ngân hàng ACB) được đánh số 01 đến 02; 01 điện thoại di động hiệu CityCall, số Imei 1: 865966030831057; số Imei 2: 865966030831065; màu đen; Model: M9+ và 01 sim điện thoại Vina có số thuê bao 0946.060.394 không pH1 là vật chứng của vụ án, tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án N đề nghị trả lại cho Hồ Văn N. Đối với các tài liệu, sổ sách: 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 34A8007408 mang tên hộ kinh doanh Hồ Văn N; 01 cuốn sổ xanh đen cũ, bìa chữ “Sacombank” trong có chữ đánh số từ 01 đến 71; 01 cuốn T3 học sinh cũ, bìa chữ “Thế hệ mới” trong có chữ, đánh số từ 01 đến 19; 01 cuốn T3 học sinh bìa có chữ “Hồng Hà” trong có chữ, đánh số từ 01 đến 08; 01 cuốn T3 học sinh cũ, bìa có chữ “Nghệ Xương Book” đánh số từ 01 đến 12; 01 cuốn T3 học sinh cũ, bìa có chữ “Reward” trong có chữ, đánh số từ 01 đến 33; và 11 Giấy đăng ký mô tô, xe máy giả mang tên: Trần Vũ Anh Minh (biển kiểm soát 61L6-6129); Trần Vũ Anh Minh (biển kiểm soát 61L6-9513); Trương Vũ T8 (biển kiểm soát 61Y3-6562); Trần Quốc Chuẩn (biển kiểm soát 61L7-1320); Nguyễn Bá Hoàng (biển kiểm soát 61Y2-0125); Nguyễn Văn Lịch (biển kiểm soát 61S1-0225); Đặng Văn Quang (biển kiểm soát 61Y2-9703); Huỳnh Minh Xuân (biển kiểm soát 60 P6-0684); Nguyễn Hữu Phước (biển kiểm soát 61L7-0756); Đỗ Thị Tuyết Mai (biển kiểm soát 61L8-7316); Nguyễn Hữu Nhật (biển kiểm soát 61L8-3716) có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N lưu hồ sơ vụ án. Bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền 10.800.000 đồng là tiền bị cáo có được do phạm tội mà có theo Biên lai thu tiền số AA/2010/06414 ngày 03/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi. Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Nguyên L đã giao cho bị cáo 21.000.000 đồng để mua chiếc xe ba bánh biển số 60Y3 – 6562 (trong đó 1.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua xe; 20.000.000 đồng là một phần tiền mua xe), bị cáo đã trả lại cho anh L 1.000.000 đồng, anh L yêu cầu được trả lại số tiền 20.000.000 đồng bị Cơ quan điều tra thu giữ do khi giao dịch với bị cáo anh L không biết loại xe này bị cấm kinh doanh vận tải, vì vậy đề nghị hoàn trả cho anh Bùi Nguyên L số tiền 20.000.000 đồng có tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 03/4/2019 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

Ý kiến của L sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Việc truy tố và xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ để bị cáo được hưởng mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt theo quy định của Bộ L tố tụng Hình sự các văn bản tố tụng cho những người này, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Hồ Văn N đã khai nhận T8 bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án N có cơ sở để xác định: Nhằm mục đích thu lợi cá nhân N từ năm 2015 đến tháng 01/2019, Hồ Văn N đã sử dụng các giấy đăng ký xe mô tô, xe máy giả kèm theo các xe ba bánh, xe bò để bán xe cho 13 người có nhu cầu mua xe sử dụng, thu lợi 10.800.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hồ Văn N phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” và “thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”, theo quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 341 của Bộ L hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Văn N không có tình tiết tăng nặng.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện tội phạm (có xác nhận của Cơ quan Công an thành phố Quảng Ngãi), bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự, bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, ông N là người cao tuổi N bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ L hình sự.

[6] Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Hồ Văn N nhận T9 được hành vi sử dụng Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy giả để bán xe ba bánh là vi phạm pháp L nhưng hám lợi N bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến hot động đúng đắn B thường của các cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến chính sách quản lý việc lưu thông các loại xe cơ giới ba bánh, xe thô sơ ba bánh hoạt động trái phép trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, gây mất trật tự an T8 xã hội N cần pH1 được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa C loại tội phạm này. Tuy nhiên, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ L hình sự, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 N cần áp dụng Điều 54 Bộ L hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa C tội phạm.

[7] Đối với đối tượng bị cáo khai là người bán xe và cung cấp tài liệu giả cho bị cáo bán xe như: Vũ Chí T9; Dương Thị Quốc T10, Hoàng Văn B1; Lương Văn N, Trịnh Văn H qua điều tra không có đủ cơ sở khởi tố và chưa xác minh làm rõ được N Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp.

[8] Đối với những đối tượng mua xe ba bánh của bị cáo đề nghị Cơ quan điều tra phối hợp với chính quyền địa phương giáo dục, xử lý theo quy định.

[9] Đối với bà Đỗ Thị T1 là vợ và con của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện họ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

[10] Về xử lý vật chứng:

Đối với các xe ba bánh màu xanh hiệu: Loncin mang biển kiểm soát 61L6-9513, số máy LX163ML “RC041042”; Yinxiang mang biển kiểm soát 60X2-7028, số máy 162MK-2 “1F008837”; Yinxiang mang biển kiểm soát 61L6-6129, số máy 167MM-2 “15001236”; Loncin mang biển kiểm soát 60Y3-6562, số máy LX163FMK “RC048282” và 01 khung sườn gắn máy xe ba bánh màu đen không có biển kiểm soát, số khung HKZ-010210, số máy 162MK-2 “1F010606”; 01 lốc máy hiệu Loncin-số LX163FML-RC032179; 01 lốc máy hiệu Loncin-số LX162FMK-RC019034; 03 bộ nhún ty phuột (màu đen: 02; màu trắng: 01); 07 nệm tựa lưng màu xanh; 17 yên xe màu đen; bốn xe ba bánh là vật chứng; phương tiện không được phép hoạt động, lưu hành vận tải và các phụ tùng bị cáo dùng để phục vụ việc lắp ráp, thay mới, sửa chữa cho các xe ba bánh, bị cáo không yêu cầu nhận lại có tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/11/2019 giữa Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ L tố tụng Hình sự.

Đối với 22 tờ giấy mua hàng phụ tùng được đánh số thứ tự từ 01 đến 22; 02 tờ giấy nộp tiền ngày 27/11/2018, ngày 11/12/2018 người nộp tiền Hồ Văn N (Ngân hàng ACB) được đánh số 01 đến 02; 01 điện thoại di động hiệu CityCall, số Imei 1: 865966030831057; số Imei 2: 865966030831065; màu đen; Model: M9+ và 01 sim điện thoại Vina có số thuê bao 0946.060.394 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án N cần trả lại cho Hồ Văn N theo điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ L tố tụng Hình sự.

Đối với các tài liệu, sổ sách: 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 34A8007408 mang tên hồ kinh doanh Hồ Văn N; 01 cuốn sổ xanh đen cũ, bìa chữ “Sacombank” trong có chữ đánh số từ 01 đến 71; 01 cuốn T3 học sinh cũ, bìa chữ “Thế hệ mới” trong có chữ, đánh số từ 01 đến 19; 01 cuốn T3 học sinh bìa có chữ “Hồng Hà” trong có chữ, đánh số từ 01 đến 08; 01 cuốn T3 học sinh cũ, bìa có chữ “Nghệ Xương Book” đánh số từ 01 đến 12; 01 cuốn T3 học sinh cũ, bìa có chữ “Reward” trong có chữ, đánh số từ 01 đến 33; và 11 Giấy đăng ký mô tô, xe máy giả mang tên: Trần Vũ Anh Minh (biển kiểm soát 61L6-6129); Trần Vũ Anh Minh (biển kiểm soát 61L6-9513); Trương Vũ T8 (biển kiểm soát 61Y3-6562); Trần Quốc Chuẩn (biển kiểm soát 61L7-1320); Nguyễn Bá Hoàng (biển kiểm soát 61Y2-0125); Nguyễn Văn Lịch (biển kiểm soát 61S1-0225); Đặng Văn Quang (biển kiểm soát 61Y2-9703); Huỳnh Minh Xuân (biển kiểm soát 60 P6-0684); Nguyễn Hữu Phước (biển kiểm soát 61L7-0756); Đỗ Thị Tuyết Mai (biển kiểm soát 61L8-7316); Nguyễn Hữu Nhật (biển kiểm soát 61L8-3716) có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N đã lưu hồ sơ vụ án.

Bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền 10.800.000 đồng là tiền bị cáo có được do phạm tội mà có theo Biên lai thu tiền số AA/2010/06414 ngày 03/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ L tố tụng Hình sự.

Anh Bùi Nguyên L đã nhận lại từ bị cáo 1.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua xe; anh L tiếp tục yêu cầu được trả lại số tiền 20.000.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang. Xét anh L khi giao dịch mua xe của bị cáo không biết xe ba bánh là loại hình phương tiện cấm kinh doanh vận tải N không có lỗi vì vậy cần trả lại cho anh Bùi Nguyên L số tiền 20.000.000 đồng có tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 03/4/2019 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

[11] Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt, về xử lý vật chứng là phù hợp N được chấp nhận.

[12] Đề nghị của L sư tại phiên tòa là chưa phù hợp quy định của pháp L do bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.

[13] Về án phí: Bị cáo Hồ Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 341; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn N 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với các xe ba bánh màu xanh hiệu: Loncin mang biển kiểm soát 61L6-9513, số máy LX163ML “RC041042”; Yinxiang mang biển kiểm soát 60X2-7028, số máy 162MK-2 “1F008837”; Yinxiang mang biển kiểm soát 61L6-6129, số máy 167MM-2 “15001236”; Loncin mang biển kiểm soát 60Y3-6562, số máy LX163FMK “RC048282” và 01 khung sườn gắn máy xe ba bánh màu đen không có biển kiểm soát, số khung HKZ-010210, số máy 162MK-2 “1F010606”; 01 lốc máy hiệu Loncin-số LX163FML-RC032179; 01 lốc máy hiệu Loncin-số LX162FMK-RC019034; 03 bộ nhún ty phuột (màu đen: 02; màu trắng: 01); 07 nệm tựa lưng màu xanh; 17 yên xe màu đen.

Trả lại cho bị cáo Hồ Văn N 22 tờ giấy mua hàng phụ tùng được đánh số thứ tự từ 01 đến 22; 02 tờ giấy nộp tiền ngày 27/11/2018, ngày 11/12/2018 người nộp tiền Hồ Văn N (Ngân hàng ACB) được đánh số 01 đến 02; 01 điện thoại di động hiệu CityCall, số Imei 1: 865966030831057; số Imei 2: 865966030831065; màu đen; Model: M9+ và 01 sim điện thoại Vina có số thuê bao 0946.060.394.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.800.000 đồng là tiền bị cáo có được do phạm tội mà có theo Biên lai thu tiền số AA/2010/06414 ngày 03/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

Trả lại cho anh Bùi Nguyên L số tiền 20.000.000 đồng có tại Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 03/4/2019 của Công an thành phố Quảng Ngãi nộp vào tài khoản số 3949.0.9043031.00000 của Công an thành phố Quảng Ngãi tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Hồ Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2019/HSST ngày 30/11/2019 về sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức

Số hiệu:91/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về