Bản án 91/2019/DS-ST ngày 27/06/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 91/2019/DS-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 27 tháng 06 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 351/2018/TLST-DS ngày 14/12/2018 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐST-DS ngày 13/05/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐST-DS ngày 31/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: PHẠM THỊ KIM T – sinh năm 1977;

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang,

2. Bị đơn

TRẦN THỊ A – sinh năm 1955;

TRẦN THỊ KIM X - sinh năm 1990

Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang;

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T trình bày: chị có tham gia chơi hụi do bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X làm chủ, dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/5/2017, gồm 16 phần, chị tham gia 02 phần, hụi mãn vào ngày 18/8/2018.

Chị đóng được 15 kỳ với số tiền là 45.000.000 đồng thì bà A, chị X tuyên bố bể hụi. Sau khi bể hụi chị nhiều lần yêu cầu bà A, chị X trả lại tiền hụi mà chị đã đóng nhưng bà A, chị X không thực hiện. Ngày 01/9/2018 Ban hòa giải ấp B tổ chức hòa giải, giải quyết tranh chấp hụi giữa các hụi viên với bà A, chị X. Tại buổi hòa giải bà A, chị X thừa nhận có nợ chị số tiền 45.000.000 đồng nhưng xin trả trong thời hạn 02 tháng. Tuy nhiên đến nay bà A, chị X vẫn không thực hiện. Nay chị yêu cầu bà Trần Thị A, chị Trần Thị Kim X liên đới trả cho chị số tiền 45.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho bà A, chị X nhưng bà A, chị X không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại phiên Tòa hôm nay

Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim T yêu cầu bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X liên đới trả lại số tiền hụi là 45.000.000 đồng, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T, buộc bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X có trách nhiệm liên đới trả lại chị Phạm Thị Kim T số tiền hụi là 45.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là tranh chấp hợp đồng góp hụi.

[1] Xét bị đơn bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà A, chị X vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt bà A, chị X.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T là có cơ sở: vì chị Phạm Thị Kim T có tham gia 01 dây hụi do bà bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X làm chủ vào ngày 15/5/2017. Sau khi tham gia chị T đóng được 15 kỳ hụi sống với số tiền là 45.000.000 đồng, đến tháng 5/2018 bà A, chị X tuyên bố bề hụi, nhưng không trả tiền lại cho chị T. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình chị T cung cấp biên bản hòa giải ngày 01/9/2018 của tổ hòa giải ấp B, xã B, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B. Trong biên bản hòa giải này phía bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X xác định còn nợ lại chị T số tiền là 45.000.000 đồng. Tuy trong biên bản hòa giải này không có chữ ký của bà A và chị X nhưng qua xác minh ông Nguyễn Văn Tám - Trường ấp xã B, ông Nguyễn Văn Hùng - Trưởng ban công tác mặt trận ấp B, ông Võ Thành Vân - Phó Trưởng ấp xã B, là những người tiến hành hòa giải tranh chấp hụi giữa các hụi viên trong đó có chị T với bà A, chị X ngày 01/9/2018, đều xác định tại buổi hòa giải có mặt bà A, chị X và bà A, chị X xác định còn nợ chị T số tiền 45.000.000 đồng. Buổi hòa giải đến 12 giờ 30 phút các bên đói bụng nên xin nghỉ và thống nhất 8 giờ ngày 04/9/2018 sẽ tiếp tục tiến hành hòa giải tiếp. Đến 8 giờ 30 phút ngày 04/9/2018 tiếp tục hòa giải nhưng bà A, chị X không có mặt nên không ký tên vào biên bản hòa giải ngày 01/9/2018. Do đó, có đủ cơ sở xác định giữa chị T với bà A, chị X đã xác lập hợp đồng góp hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015, hiện các dây hụi này đã bể nhưng bà A, chị X vẫn không trả tiền hụi lại chọ chị T, nên bà A, chị X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần buộc bà A, chị X trả cho chị T số tiền 45.000.000 đồng là phù hợp với Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Về tiền lãi: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về thời gian trả: chị T yêu cầu trả tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu này là có cơ sở vì số tiền này bà A, chị X để kéo dài không trả cho chị T đã ảnh hưởng đến quyền lợi của chị T, nên cần buộc bà A, chị X trả tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều Điều 175, 179, 227, 233, 235 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 275, 280, 471 Bộ luật dân sự năm 2015

- Áp dụng Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu phường

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim T

Buộc bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X có trách nhiệm liên đới trả cho chị Phạm Thị Kim T số tiền hụi là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí:

- Bà Trần Thị A và chị Trần Thị Kim X phải chịu 2.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại cho chị Phạm Thị Kim T 1.125.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 39908 ngày 06/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây.

Báo nguyên đơn có mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Báo bị đơn vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án văn hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2019/DS-ST ngày 27/06/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:91/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Công Tây - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về