Bản án 91/2018/HSST ngày 28/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 91/2018/HSST NGÀY 28/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/ 2018/ HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2018/QĐXXST-HS ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức H; tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày: 24/5/1962 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Hộ khẩu thường trú: tổ N, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở: tổ N, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng;

Dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa : 7/10; con ông: Nguyễn Đức T - sinh năm 1930 (đã chết); con bà: Trần Thị T - sinh năm 1935, trú tại: phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; anh, chị, em ruột: có 2 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; vợ: Triệu Lý Thị D, sinh năm: 1972, trú tại: tổ N, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; con: có 02 con, con đầu sinh năm 1990, con thứ hai sinh năm 1997; tiền sự: không; tiền án: ngày 25/11/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội Kinh doanh trái phép.

Nhân thân: Năm 1993 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 12 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 22 tháng 8 năm 2018, Nguyễn Đức H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 11A-019.3N từ nhà đi ra Bến xe khách thành phố C để tìm mua Heroine về sử dụng. Tại đây, H gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 20 tuổi, không biết tên và địa chỉ. H hỏi người đó có Heroine không, nếu có thì bán cho H 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), người này đồng ý. Sau đó H đưa cho người đó 800.000đ, người này đi đâu đó khoảng 05 phút sau quay lại đưa cho H 02 gói Heroine đều được gói bằng nilon màu xanh, ở trong là lớp giấy bạc màu trắng. Sau khi trao đổi xong, người đàn ông đó đi đâu không biết, còn H cho gói Heroine vào trong túi quần đang mặc rồi đi ra quán uống nước, đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì về nhà, khi vừa về đến trước cửa nhà của H thì bị Công an bắt quả tang. H đã tự giác giao nộp số Heroine trên.

Vật chứng thu giữ: 02 gói nhỏ nilon màu xanh bên trong mỗi gói là lớp giấy bạc màu trắng có chứa Heroine, tổng khối lượng là 0,62 gam (không phẩy sáu hai gam) do H tự giác giao nộp; 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia; 01 xe ô tô nhãn hiệu Lexus màu đen biển kiểm soát 11A-019.3N, xe cũ đã qua sử dụng.

Ngày 06 tháng 9 năm 2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 137 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 189/GĐMT ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.”

Hành vi của Nguyễn Đức H đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết tái phạm vì có tiền án năm 2014 chưa được xóa án tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số: 88/CT-VKSTP ngày 14/11/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo cáo Nguyễn Đức H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số: 189/GĐMT ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong tang vật; trả lại cho bị cáo 01 (một) phong bì niêm phong điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA. Về án phí, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: hồi 11 giờ 20 phút ngày 22/8/2018 tại tổ N, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Nguyễn Đức H có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,62g (không phẩy sáu hai gam). Số Heroine này H mua về mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 [3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo là người nghiện ma túy, nhân thân xấu, đã có 02 tiền án: năm 1993 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 12 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Ngày 25/11/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng về tội Kinh doanh trái phép (chưa được xóa án tích) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà khi có cơ hội lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Trong vụ án này, về nguồn gốc số Heroine, Nguyễn Đức H khai nhận được mua với một người đàn ông khoảng 20 tuổi ở Bến xe khách thành phố C nhưng không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, việc trao đổi không ai biết. Hiện nay, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đang tiếp tục điều tra làm rõ, nếu xác minh được và có căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11A- 019.3N qua điều tra, xác định được chủ sở hữu là bà Triệu Lý Thị D (sinh năm 1972, trú tại: tổ N, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, là vợ của H); bà D không biết việc H mượn xe để đi mua ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã trả lại chiếc xe cho bà D. Xét thấy việc xử lý vật chứng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng là đúng theo quy định của pháp luật; chủ sở hữu là bà Triệu Lý Thị D không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng nên hội đồng xét xử không đặt ra việc xem xét giải quyết lại vật chứng là chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11A- 019.3N.

Còn lại số vật chứng gồm:

- 01 (một) phong bì niêm phong ghi tang vật vụ: Nguyễn Đức H, sinh năm 1962; HKTT: tổ N, phường S, thành phố C; hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động NOKIA của bị cáo xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo.

Số vật chứng trên hiện nay đang lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2018.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức H 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 22/8/2018.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ghi tang vật vụ: Nguyễn Đức H, sinh năm 1962; HKTT: tổ N, phường S, thành phố C; hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 22/8/2018.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) phong bì niêm phong điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang được lưu giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2018.

3. Về án phí: áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đức H chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


107
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2018/HSST ngày 28/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:91/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Bằng - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về