Bản án 91/2017/HSST ngày 17/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
BẢN ÁN 91/2017/HSST NGÀY 17/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2017/HSST, ngày 06/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn T, (tên gọi khác là La) sinh năm 1988; Nơi sinh: huyện B -T; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn H, thị trấn C, huyện B, tỉnh T; Chổ ở: không ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn; con ông Nguyễn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tr; Anh, chị, em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2002; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: có 01 tiền án: Ngày 10/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 07 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2015: Tiền sự: Không; Bị can bị bắt ngày 05/7/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện T, có mặt.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Tấn T bị Viện kiểm sát Nhân dân huyện T truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 05/7/2017 tổ công tác gồm đội Cảnh sát giao thông và đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy của Công an huyện T phối hợp tuần tra tại khu vực vòng xoay thuộc khu phố 5, thị trấn Liên Hương, huyện T phát hiện Nguyễn Tấn T điều khiển xe mô tô biển số 59D2-04681 không đội mũ bảo hiểm, có biểu hiện nghi vấn tàng trữ ma túy. Kiểm tra trong xe T đang điều khiển thu giữ 01 tẩu thủy tinh có chiều dài 14,5cm, 02 ống nhựa màu đỏ sọc trắng đã hàn kín một đầu dài khoảng 10cm; thu giữ trên người của T 01 ví da màu nâu bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô mang tên Nguyễn Tấn T, 01 đăng ký xe mô tô phô tô mang tên Nguyễn Tấn T, số tiền 400.000 đồng, 01 gói nylon có kích thước 1,5x1,5cm đã hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn T khai nhận là ma túy đá; thu giữ trong túi quần bên phải của T 03 gói nylon kích thước 02x01cm, 01 gói nylon kích thước 03x05cm, cả bốn gói nylon đều được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn, T khai nhận là ma túy đá; thu giữ trong túi quần bên trái của T 01 gói nylon màu trắng kích thước 05x01cm đã được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn T khai nhận là ma túy đá, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen; Thu giữ trong túi xách T mang theo 01 gói nylon kích thước 9x6cm, bên trong có 04 gói nhỏ (trong đó có 03 gói kích thước 03x1,5cm, 01 gói kích thước 03x5,5cm) bên trong mỗi gói nylon có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn T khai nhận là ma túy đá; 01 cân tiểu ly; 02 cây kéo (01 cây kéo kẹp, 01 cây kéo cắt); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
Tại kết luận giám định số: 443/KLGĐ-PC54 ngày 06/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 2,0896 gam, là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,1397 gam, là Methamphetamine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 6,0260 gam, là Methamphetamine.
Nguyễn Tấn T khai nhận: khoảng 14 giờ ngày 03/7/2017 T đi đến Bến xe Miền Đông – thành phố Hồ Chí Minh mua của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) được 01 gói ma túy đá (methamphetamine) với giá 3.000.000 đồng.
Sau đó, T thuê nhà nghỉ bình dân gần bến xe Miền Đông để phân lẻ và sử dụng ma túy đá đã mua được. Đến sáng ngày 05/7/2017 T điều khiển xe mô tô biển số 59D2-04681 (có số sườn LSBF4510G0135882, số khung F4CB-135564) chạy về đến thị  trấn Liên Hương thì phát hiện bắt giữ.
Tại bản cáo trạng số: 84/QĐ/KSĐT/VKS/HS, ngày 05/10/2017 của Viện Kiểm sát Nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 33 của Bộ Luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt;
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, gồm: 05 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 1,2096 gam mẫu vật M1 còn lại sau giám định, đã được niêm phong trong phong bì số 443/1; 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 443/2, mẫu vật đã dùng hết trong công tác giám định; 05 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 3,9077 gam mẫu vật M3 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 443/3 và 01 cân tiểu ly màu đen; 01 tẩu thủy tinh dài 14,5cm; 02 ống nhựa màu đỏ sọc trắng đã hàn kín một đầu dài khoảng 10cm; 02 cây kéo (01 cây kéo kẹp, 01 cây kéo cắt); 01 ví da màu nâu.
Trả lại cho bị cáo số tiền 400.000đ và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen Imel 1: 355201302271775, số Imel 2: 355201302271783; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen có số Imel 355502/05/251681/8.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài  liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn T khai nhận: Do cần có ma túy sử dụng nên vào khoảng 14 giờ ngày 03/7/2017 bị cáo vào Bến xe Miền Đông – thành phố Hồ Chí Minh mua của 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) được 01 gói ma túy đá (methamphetamine) giá 3.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo thuê nhà nghỉ bình dân gần Bến xe Miền Đông để phân lẻ và sử dụng ma túy đá đã mua được.
Đến sáng ngày 05/07/2017 bị cáo điều khiển xe mô tô biển biển số 59D2-04681 (có số sườn LSBF4510G0135882, số khung F4CB-135564) chạy về đến thị trấn Liên Hương đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 05/7/2017 tổ công tác gồm Đội Cảnh sát giao thông và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy của Công an huyện T phối hợp bắt bị cáo do điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm. Kiểm tra thu giữ của bị cáo T gồm:
01 tẩu thủy tinh có chiều dài 14,5cm, 02 ống nhựa màu đỏ sọc trắng đã hàn kín một đầu dài khoảng 10cm; ví da màu nâu bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân phô tô mang tên Nguyễn Tấn T, 01 đăng ký xe mô tô phô tô mang tên Nguyễn Tấn T; 01 gói nylon có kích thước 1,5x1,5cm đã hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn; 03 gói nylon kích thước 02x01cm, 01 gói nylon kích thước 03x05cm, cả bốn gói nylon đều được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn; 01 gói nylon màu trắng kích thước 05x01cm đã được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn; 01 gói nylon kích thước 9x6cm, bên trong có 04 gói nhỏ (trong đó có 03 gói kích thước 03x1,5cm, 01 gói kích thước 03x5,5cm) bên trong mỗi gói nylon có chứa tinh thể màu trắng dạng rắn; 01 cân tiểu ly; 02 cây kéo (01 cây kéo kẹp, 01 cây kéo cắt); số tiền 400.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
Tại kết luận giám định số: 443/KLGĐ-PC54 ngày 06/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 2,0896 gam, là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,1397 gam, là Methamphetamine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 6,0260 gam, là Methamphetamine.
Lời khai nhận của bị cáo T phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ chứng cứ chứng minh bị cáo T đang cất giấu 10 gói ma túy đá (methamphetamine) có khối lượng 8,2553 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định bị cáo Nguyễn Tấn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”  khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân huyện T đã truy tố là có cơ sở và đúng pháp luật.
Bị cáo là công dân có đủ năng lực pháp luật nên nhận thức và biết rõ sự tác hại của ma túy, nhưng do muốn có ma túy sử dụng nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo rất  nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của nhà nước, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có nhân thân không tốt, đã có 01 tiền án về tôi “mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự nên cũng cần xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật. Vì vậy, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với người đàn ông ở Bến xe Miền Đông – thành phố Hồ Chí Minh đã bán ma túy đá cho bị cáo T do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về tang vật chứng vụ án:
Đã chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T số tiền 400.000 đồng thu giữ và chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen Imel 1: 355201302271775, số Imel 2: 355201302271783; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen có số Imel 355502/05/251681/8, xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, do không có căn cứ xác định là tài sản thu lợi bất chính và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với các vật dụng như: 01 cân tiểu ly màu đen, 01 tẩu thủy tinh dài 14,5cm; 02 ống nhựa màu đỏ sọc trắng đã hàn kín một đầu dài khoảng 10cm; 02 cây kéo (01 cây kéo kẹp, 01 cây kéo cắt); 01 ví da màu nâu và toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, gồm: 05 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 1,2096 gam mẫu vật M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 443/1; 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 443/2, mẫu vật đã dùng hết trong công tác giám định; 05 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 3,9077 gam mẫu vật M3 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 443/3.
Xét thấy, đây là những vật cấm lưu hành và không có giá trị và không sử dụng được nên tịch thu tiêu huỷ Chiếc xe mô tô có số sườn LSBF4510G0135882, số khung F4CB-135564 thuộc sở hữu của Bùi Đức A cho bị cáo mượn để đi làm, A không biết T sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho A theo quy định của pháp luật nên không xem xét nữa.
Riêng biển số 59D2-04681 thuộc sở hữu của Trần Trọng H đã làm rơi, T mua được ở vựa phế liệu gắn vào xe đã mượn của Bùi Đức A, nay H đã đăng ký làm biển số mới, đội Cảnh sát giao thông – Công an huyện T tiến hành tịch thu, xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo phải nộp án phí theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng: khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 33 của Bộ Luật hình sự; Tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 02 năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn ở tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05/7/2017).
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ Luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, gồm: 05 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 1,2096 gam mẫu vật M1 còn lại sau giám định, đã được niêm phong trong phong bì số 443/1; 01 gói nylon đã cắt lấy mẫu được niêm phong trong phong bì số 443/2, mẫu vật đã dùng hết trong công tác giám định; 05 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 3,9077 gam mẫu vật M3  còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 443/3 và 01 cân tiểu ly màu đen; 01 tẩu thủy tinh dài 14,5cm; 02 ống nhựa màu đỏ sọc trắng đã hàn kín một đầu dài khoảng 10cm; 02 cây kéo (01 cây kéo kẹp, 01 cây kéo cắt); 01 ví da màu nâu.
Trả lại cho bị cáo số tiền 400.000đ và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen Imel 1: 355201302271775, số Imel 2: 355201302271783; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen có số Imel 355502/05/251681/8 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Án phí: Áp dụng theo Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và theo Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường  hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án  dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, T hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 91/2017/HSST ngày 17/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:91/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuy Phong - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về