Bản án 90/2019/HNGĐST ngày 29/07/2019 về xin ly hôn và con chung 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐST NGÀY 29/07/2019 VỀ XIN LY HÔN VÀ CON CHUNG 

Ngày 29 tháng 7 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 344/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị S – Sinh năm: 1986 (Có mặt)

Địa chỉ: 16/12 đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Anh Trần P – Sinh năm: 1983 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: 16/12 đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị S và anh Trần P chung sống với nhau từ năm 2009 nhưng đến ngày 02/6/2011 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh P không chăm lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nên anh P, chị S đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Nay chị S xét thấy bản thân không thể tiếp tục chung sống với anh P được nữa nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị S và anh P có 01 con chung là cháu Trần Hạo N - Sinh ngày: 24/8/2010.

Chị S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N đến tuổi trưởng thành. Chị S không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập anh Trần P để làm việc và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án, xác định:

-Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, HĐXX đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị S và anh Trần P chung sống với nhau từ năm 2009 nhưng đến ngày 02/6/2011 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh P không chăm lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến tình cảm không còn. Nên anh P, chị S đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Nay chị S xét thấy bản thân không thể tiếp tục chung sống với anh P được nữa nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P là có căn cứ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn và nuôi con chung của chị Lê Thị S. Xử cho chị Lê Thị S được ly hôn với anh Trần P.

Giao cháu Trần Hạo N - Sinh ngày: 24/8/2010 cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Chị S không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Lê Thị S, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần P đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Vì vậy, Hoäi đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh P.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của chị S, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị S và anh Trần P chung sống với nhau từ năm 2009 nhưng đến ngày 02/6/2011 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị S anh P là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Về tình trạng hôn nhân của chị S anh P thì trong quá trình chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh P không chăm lo cho gia đình, không quan tâm tới vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến tình cảm không còn, không thể hàn gắn được. Nên anh P, chị S đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Do vậy, chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P.

Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho biết: Anh P có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại 16/12 đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên anh P thường xuyên đi làm vắng nhà nên Tòa án không tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh P được. Về mâu thuẫn vợ chồng thì quá trình chung sống vợ chồng chị Lê Thị S và anh Trần P sinh sống tại tổ dân phố 3, phường T, thành phố B có xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên chị S anh P không yêu cầu địa phương tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị S anh P xảy ra trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị S xin ly hôn với anh P là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.

Về con chung: Chị S và anh P có 01 con chung là cháu Trần Hạo N - Sinh ngày: 24/8/2010.

Chị S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N đến tuổi trưởng thành và quá trình giải quyết tại Tòa án thì cháu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Trong khi đó anh P thường xuyên đi làm vắng nhà nên không thể đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Xét về nguyện vọng của chị S và cháu N, các điều kiện nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Trần Hạo N cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị S không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị S. Chị Lê Thị S được ly hôn với anh Trần P.

Về con chung: Giao cháu Trần Hạo N - Sinh ngày: 24/8/2010 cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Anh Trần P được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị S không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐST được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Trần Quốc S đã nộp thay chị S theo biên lai số: AA/2017/0012028 ngày 14/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Anh Trần P không phải chịu tiền án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HNGĐST ngày 29/07/2019 về xin ly hôn và con chung 

Số hiệu:90/2019/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về