Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thúy Q, sinh năm 1997 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp D, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn X, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã R, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 5 năm 2019 và tại phiên tòa, chị Huỳnh Thúy Q trình bày: Vào năm 2015 chị và anh Huỳnh Văn X kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24 tháng 11 năm 2015. Trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do anh Huỳnh Văn X không chăm lo cho cuộc sống gia đình, hiện chị và anh Huỳnh Văn X đã không còn sống chung từ năm 2017 đến nay. Xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn X. Về con chung, có một người tên là Huỳnh Gia H (giới tính nam), sinh ngày 22 tháng 12 năm 2015, hiện do anh Huỳnh Văn X trực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu giao con chung cho anh Huỳnh Văn X tiếp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 14 tháng 8 năm 2019, bị đơn anh Huỳnh Văn X đồng ý ly hôn với chị Huỳnh Thúy Q và chấp nhận tiếp tục nuôi một người con chung, không yêu cầu chị Huỳnh Thúy Q cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Huỳnh Thúy Q ly hôn với anh Huỳnh Văn X. Về con chung, giao một người con chung cho anh Huỳnh Văn X nuôi dưỡng, chị Huỳnh Thúy Q không cấp dưỡng nuôi con. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc chị Huỳnh Thúy Q phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Việc chị Huỳnh Thúy Q xin ly hôn anh Huỳnh Văn X là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, anh Huỳnh Văn X được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Huỳnh Văn X là có căn cứ.

[2] Xét về hôn nhân, chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Phú Tân vào ngày 24 tháng 11 năm 2015, nên hôn nhân giữa chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị Huỳnh Thúy Q cho rằng quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do anh Huỳnh Văn X không chăm lo cho cuộc sống gia đình, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị và anh Huỳnh Văn X đã không còn sống chung từ năm 2017. Từ đó, chị Huỳnh Thúy Q yêu cầu ly hôn và được anh Huỳnh Văn X đồng ý. Xét thấy, giữa chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X đã không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chị Huỳnh Thúy Q được ly hôn anh Huỳnh Văn X là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung, có một người tên là Huỳnh Gia H (giới tính nam), sinh ngày 22 tháng 12 năm 2015. Chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X thống nhất thỏa thuận giao con chung cho anh Huỳnh Văn X trực tiếp nuôi và chị Huỳnh Thúy Q không cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và đúng theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó, ghi nhận sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X là có căn cứ.

[4] Chị Huỳnh Thúy Q và anh Huỳnh Văn X xác định tài sản chung và nợ chung là không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Huỳnh Thúy Q chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thúy Q ly hôn với anh Huỳnh Văn X.

2. Về con chung, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Anh Huỳnh Văn X chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Huỳnh Gia H (giới tính nam), sinh ngày 22 tháng 12 năm 2015. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Văn X không yêu cầu chị Huỳnh Thúy Q cấp dưỡng nuôi con.

Chị Huỳnh Thúy Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Huỳnh Thúy Q phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019187, ngày 22 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, chị Huỳnh Thúy Q đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Huỳnh Thúy Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Văn X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:90/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về