Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ TRANH CHẤP KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG 

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 386/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm: 1975 

HKTT: Thôn 4, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

Nơi cư trú: Ấp 4, xã Đ, huyện H, TP. Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1972 

Nơi cư trú: Thôn 4, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 9 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau với nhau từ năm 1997, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 1993 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đã nhiều lần hòa giải để tiếp tục sống nhưng vẫn không thể hòa hợp. Vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Hiện nay, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Văn Q.

Về nuôi con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q có 03 con chung tên là Nguyễn Văn V sinh năm 1998, Nguyễn Thị V sinh năm 1999 và Nguyễn Văn V1 sinh năm 2003. Do hai cháu lớn đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự, nên không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Văn V1 thì để cháu tự quyết định sống với ai. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

Về chia tài sản chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận anh và chị Phạm Thị L chung sống với nhau từ năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống giữa anh và chị Phạm Thị L xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hợp nhau về tính cách, lối sống, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cải vã. Từ năm 2008 chị Phạm Thị L tự động bỏ nhà đi cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì nhau. Hiện nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý giải quyết không công nhận vợ chồng với chị Phạm Thị L.

Về nuôi con chung: Anh thống nhất với lời khai của chị Phạm Thị L về con chung. Hai cháu lớn đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Văn V1 anh có nguyện vọng để cháu tự quyết định sống với ai.

Về chia tài sản chung: Anh và chị Phạm Thị L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh và chị Phạm Thị L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về tố tụng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Điều 11, Điều 53 của Luật Hôn nhân vả Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị L.

Về nuôi con chung: Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Văn V1 sinh năm 2003 cho chị Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên.

Về cấp dưỡng: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Văn V sinh năm 1998 và cháu Nguyễn Thị V sinh năm 1999 đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự, không ai yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Q và chị Phạm Thị L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc nguyên đơn chị Phạm Thị L nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Q (là bị đơn) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ nhất và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q đều khai nhận anh chị tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1997, tuy nhiên do không hiểu biết pháp luật nên không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Vì vậy, việc chung sống giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q không hợp pháp nên không được pháp luật thừa nhận.

[3] Về yêu cầu giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng: Chị Phạm Thị L khai nhận trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có nhiều bất đồng, không hòa hợp, thường xuyên cải vã. Anh chị sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân mạnh ai nấy sống, kinh tế độc lập. Tại biên bản lấy lời khai anh Nguyễn Văn Q nhất trí với toàn bộ lời khai của chị Phạm Thị L về thời gian chung sống và mâu thuẫn giữa vợ chồng (bút lục 18). Hiện nay chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q đều nhất trí đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L về quan hệ hôn nhân.

[4] Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q khai nhận vợ chồng có 03 con chung tên là Nguyễn Văn V sinh năm 1998, Nguyễn Thị V sinh năm 1999 và Nguyễn Văn V1 sinh năm 2003. Lời khai của chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q phù hợp với giấy khai sinh đứng tên Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị Vy và Nguyễn Văn V1 đã được giao nộp hợp pháp.

Đối với yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Anh Nguyễn Văn Q và chị Phạm Thị L đều có nguyện vọng để cháu Nguyễn Văn V1 quyết định sống với ai. Xét, trong thời gian chị Phạm Thị L anh Nguyễn Văn Q sống ly thân, chị Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn V1 phát triển đầy đủ, lành mạnh về thể chất, trí tuệ. Anh Nguyễn Văn Q thường đi làm ăn xa không đảm bảo thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong khi đó, cháu Nguyễn Văn V1 có nguyện vọng được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng (bút lục số 21). Xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của cháu Nguyễn Văn V1 theo quy định vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình cần giao cháu Nguyễn Văn V1 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Đối với cháu Nguyễn Văn V sinh năm 1998 và cháu Nguyễn Thị V sinh năm 1999 đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự. Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị L, chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

[6] Về chia tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Q chị Phạm Thị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[7] Về nợ chung: Anh Nguyễn Văn Q chị Phạm Thị L không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, nguyên đơn chị Phạm Thị L phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[9] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Văn V1, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2003 cho chị Phạm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; Có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chưa thành niên, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

Đối với cháu Nguyễn Văn V sinh năm 1998 và cháu Nguyễn Thị V sinh năm 1999 đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự, không ai yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng, cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Q, chị Phạm Thị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về chia tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Q, chị Phạm Thị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

5. Về nợ chung: Anh Nguyễn Văn Q, chị Phạm Thị L không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

6. Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0009736 ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Phước (đã nộp xong).

7. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-11-2019), đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


57
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

Số hiệu:90/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về