Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 12/03/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 90/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 12 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1998; địa chỉ: Khu dân cư thị trấn L, ấp T, thị trấn L, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Ngô Chí L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 14. ấp T, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, bà Y có đơn yêu cầu được vắng mặt; ông L vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Nguyễn Thị Y; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân, bà Y và ông L tự tìm hiểu, quen biết và đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2016 nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 15/5/2017. Theo bà Y, thời gian đi làm thuê ở Bình Dương, ông L đã có mối quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm lo gia đình, bà nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông L không từ bỏ. Bà Y trở về quê sinh sống và ly thân với ông L từ năm 2017. Xét tình cảm không còn, bà Y xin được ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà Y và ông L có 01 con chung tên Ngô Chí T, sinh ngày 14/4/2017, hiện nay cháu T sinh sống cùng bà Y.

Bà Y yêu cầu được nuôi dạy con chung sau ly hôn, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông L không tham gia phiên họp công khai, tài liệu chứng cứ và hòa giải, nên không thể ghi nhận ý kiến của ông L.

Về chứng cứ:

Bà Nguyễn Thị Y cung cấp: Trích lục kết hôn ngày số 50 ngày 15/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã N; Trích lục khai sinh cháu Ngô Chí T; bản sao Sổ hộ khẩu gia đình mang tên chủ hộ ngô Văn Q; Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Y và Đơn yêu cầu không tham gia phiên tòa.

Theo yêu cầu của bà Y, Tòa án tiến hành xác minh. Theo cung cung cấp của Công an xã N, thì ông Ngô Chí L vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 14, ấp T, xã N. Theo ông Ngô Văn Q (cha của Ngô chí L), thi ông L hiện đi làm ở Bình Dương, vẫn thường về nhà. Việc bà Y xin ly hôn thi ông L có biết, về mối quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn tình cảm giữa bà Y với ông L đứng theo trình bày của bà Y.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai, các biên bản xác minh.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Bà Y vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; ông L vắng mặt lần thứ hai không lý do, nên tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Y với ông Ngô Chí L đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu nuôi con chung sau ly hôn của bà Nguyễn Thị Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về t tụng: Tòa án đã tiến hành công khai tài liệu, chứng cứ và tống đạt các văn bản tố tụng theo đứng quy định của pháp luật. Ông L đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do mặc dù ông L hoàn toàn có biết việc bà Y xin ly hôn. Như vậy, ông L đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng; bà Y có đơn yêu cầu không tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Y với ông Ngô Chí L có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/5/2017. Bà Y xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung; ông L có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại ấp T, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú theo quy định tại các Điều 29, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ hôn nhân:

Về tình cảm: Bà Y xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do ông L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm lo gia đình, đồng thời còn có những suy nghĩ, hành động không tốt đối với bà. Gia đình đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông L không sửa đổi. Qua xác minh cho thấy, việc ông L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm lo cho vợ, con là có căn cứ. Việc này đã gây bức xúc cho cả hai gia đình; ảnh hưởng nghiêm trọng về tình cảm đối với bà Y và bà Y đã về gia đình cha mẹ ruột sinh sống, ly thân với ông L từ năm 2017. Ông L biết việc bà Y xin ly hôn nhưng cũng không có thiện chí đoàn tụ. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà Y với ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Y là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Y và ông L có 01 con chung tên Ngô Chí T, sinh ngày 14/4/2017, hiện nay cháu T sinh sống cùng bà Y. Xét cháu T dưới 36 tháng tuổi nên để bà Y nuôi dạy là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận nguyện vọng nuôi con chung sau ly hôn của bà Y.

Công nhận sự tự nguyện của bà Y không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Tuy nhiên, bà Y cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, nếu ông L có tài liệu, chứng cứ chứng minh là có tài sản chung hoặc nợ chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu ông L có yêu cầu thi sẽ được thụ lý giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về chi phí t tụng:

Bà Y là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm;

Các đương sự không phải chịu chi phí tố tụng khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật t tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Y được ly hôn với ông Ngô Chí L.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Y được tiếp tục nuôi cháu Ngô Chí T, sinh ngày 14/4/2017.

Công nhận sự tự nguyện của bà Y không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2016/0010868 ngày 04/12/2018. (Bà Y đã nộp đủ).

Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.

Án tuyên công khai, bà Nguyễn Thị Y và ông Ngô Chí L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.)


103
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2019/HNGĐ-ST ngày 12/03/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:90/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về