Bản án 90/2017/HS-ST ngày 19/12/2017 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 90/2017/HSST NGÀY 19/12/2017 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2017/TLHS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2017/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Mai Hùng C, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1997, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ 5, ấp Đ, xã TĐ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Mai Thị Kim P và cha không xác định được; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2017 và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ 30, ấp Tân C, xã TP, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ 1, ấp ĐT, xã TĐ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

2. Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ 9, ấp Đ, xã TĐ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Chị M, anh Hoàng A vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2017 tại tiệm internet của bà năm Ma, thuộc ấp ĐT, xã TĐ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Mai Hùng C mượn xe mô tô biển số 70K1-9959 của Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1997 ngụ tại ấp ĐT, xã TĐ, huyện Tân Châu để đưa bạn gái về nhà và thấy cây súng màu đen bằng nhựa, loại đồ chơi trẻ em trong nhà của bạn gái nên lấy cất giấu trong người nhằm mục đích hù dọa người khác. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô của Hoàng A đến khu vực ấp Tân C, xã TP, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thấy chị Nguyễn Thị Tuyết N đang quét sân, trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng nên C nảy ý định cướp giật sợi dây chuyền. Thấy nhà chị N có xe máy cày nên C giả vờ vào thuê xe máy cày đi kéo củ mì, nhằm mục đích tiếp cận chị N và lừa gạt anh Lê Tấn Đ1 chồng chị N đi ra khỏi nhà để giật dây chuyền vàng của chị N. Khi thấy anh Đ1 chạy xe máy cày ra khỏi nhà, C chạy xe quay lại nhà chị N để thực hiện mục đích của mình, khi chị N vừa quay lưng vào nhà thì C từ phía sau dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng trên cổ chị N rồi nhanh chóng chạy ra xe mô tô để tẩu thoát nhưng bị chị N nắm tay kéo lại nên C bị té ngã, chị N giật lấy chìa khóa xe và truy hô nên có nhiều người dân chạy đến vây bắt, C lấy súng ngắn màu đen bằng nhựa trong túi quần ra hù dọa và dùng tay giật dây điện bình xe, nổ máy chạy thoát.

Sau khi chạy về đến địa bàn xã TĐ, C đến tiệm vàng “KN” tại ấp ĐT, xã TĐ, huyện Tân Châu do chị Nguyễn Thị M làm chủ bán sợi dây chuyền vừa cướp giật được số tiền 7.980.000 đồng và trả nợ cho Nguyễn Văn M, sinh năm 1992, ngụ tại ấp ĐT, xã TĐ 1.600.000 đồng; trả cho Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1995, ngụ tại ấp Thạnh H, xã TĐ 1.500.000 đồng (nhưng N1 không thừa nhận), đến 21 giờ 15 phút ngày 01/7/2017, Mai Hùng C bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu bắt khẩn cấp.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền vàng 18 Kara đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Tuyết N;

- Số tiền Việt Nam 6.480.000 đồng đã trả lại cho chị Nguyễn Thị M;

- 01 xe mô tô biển số 70K1-9959, màu xanh đen, số máy HD1P50FMH0180170, số khung FT10200090388; 01 móc khóa bằng kim loại; 01 chìa khóa thân bằng kim loại dẹp, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 cờ lê 10 -12 có chiều dài 12,5 cm; 01 con ốc kiểu bằng kim loại kích thước 1,5 cm x 1,5 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 10 cm x 04 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 04 cm x 1,8 cm, đã trả lại cho Nguyễn Hoàng A.

- Vật chứng còn tạm giữ gồm 01 đôi dép nhựa màu xám đen, 01 cây súng bằng nhựa màu đen (dạng súng ngắn) đã bị vỡ; 02 lò xo; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen và 140.000 đồng của bị cáo Mai Hùng C.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Mai Hùng C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản cáo trạng số 87/QĐ/KSĐT ngày 08 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Mai Hùng C về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Hùng C phạm tội “Cướp giật tài sản”

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Hùng C từ 03 đến 04 năm tù.

* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

- Ghi nhận bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N đã nhận lại tài sản là 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền vàng 18 Kara và không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

- Ghi nhận chị Nguyễn Thị M đã nhận số tiền 6.480.000 đồng và không yêu cầu bị cáo C phải trả thêm số tiền 1.500.000 đồng.

- Ghi nhận anh Nguyễn Hoàng A đã nhận lại tài sản 01 xe mô tô biển số 70K1-9959, màu xanh đen, số máy HD1P50FMH0180170, số khung FT10200090388; 01 móc khóa bằng kim loại; 01 chìa khóa thân bằng kim loại dẹp, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 cờ lê 10-12 có chiều dài 12,5 cm; 01 con ốc kiểu bằng kim loại kích thước 1,5 cm x 1,5 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 10 cm x 04 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 04 cm x 1,8 cm. Tất cả là phụ tùng của xe mô tô 70K1-9959 và không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép nhựa màu xám đen, 01 cây súng bằng nhựa màu đen (dạng súng ngắn) đã bị vỡ; 02 lò xo, của bị cáo Mai Hùng C không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Mai Hùng C 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen và tiền Việt Nam 140.000 đồng.

Bị cáo Mai Hùng C không tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Hùng C, bị hại Nguyễn Thị Tuyết N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Hoàng A không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Mai Hùng C muốn có tiền tiêu xài nên vào khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 01 tháng 7 năm 2017 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 70K1-9969 của Nguyễn Hoàng A (Hai N), sinh năm 1997, ngụ tại ấp ĐT, xã TĐ, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đến khu vực nhà của chị Nguyễn Thị Tuyết N, thuộc ấp Tân Châu, xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thấy chị N đang quét sân và có đeo sợi dây chuyền vàng loại 18 Kara trên cổ nên C nảy sinh ý định cướp giật, để đạt được mục đích của mình, C dùng thủ đoạn để gạt anh Đ1 chồng chị N đi ra khỏi nhà và lợi dụng lúc chị N đang quay lưng đi thì dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng của chị N định tẩu thoát thì bị người dân vây bắt nên C dùng súng nhựa, loại đồ chơi trẻ em hù dọa mọi người và chạy thoát, đến 21 giờ 15 phút cùng ngày thì bị bắt khẩn cấp.

[3] Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐG, ngày 13 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xác định: 01 (một) sợi dây chuyền vàng 18 Kara, trọng lượng 03 (ba) chỉ 09 (chín) phân 09 (chín) ly và 01 (một) mặt dây chuyền vàng 18 Kara, trọng lượng 04 (bốn) phân 03 (ba) ly, tại thời điểm ngày 01/7/2017 có giá trị 10.387.000 đồng.

[4] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay Mai Hùng C đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, vật chứng cùng lời khai của người bị hại và người làm chứng mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo. Xét thấy, khi bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị N thì bị mọi người vây bắt, bị cáo dùng súng nhựa (đồ chơi trẻ em) hù dọa và hành hung mọi người để tẩu thoát. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự, cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Bị cáo biết rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mai Hùng C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt với mức án tù thật nghiêm và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội 01 thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Ghi nhận bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N đã nhận lại tài sản là 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền vàng 18 Kara và không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thiệt hại.

- Ghi nhận chị Nguyễn Thị M đã nhận số tiền 6.480.000 đồng và không yêu cầu bị cáo C phải trả thêm số tiền 1.500.000 đồng.

- Ghi nhận anh Nguyễn Hoàng A đã nhận lại tài sản 01 xe mô tô biển số 70K1-9959, màu xanh đen, số máy HD1P50FMH0180170, số khung FT10200090388; 01 móc khóa bằng kim loại; 01 chìa khóa thân bằng kim loại dẹp, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 cờ lê 10-12 có chiều dài 12,5 cm; 01 con ốc kiểu bằng kim loại kích thước 1,5 cm x 1,5 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 10 cm x 04 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 04 cm x 1,8 cm. Tất cả là phụ tùng của xe mô tô 70K1-9959 và không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

- Đối với vật chứng là 01 đôi dép nhựa màu xám đen, 01 cây súng bằng nhựa màu đen (dạng súng ngắn) đã bị vỡ; 02 lò xo; của bị cáo Mai Hùng C là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen và tiền Việt Nam 140.000 đồng của Mai Hùng C là vật chứng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Mai Hùng C, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[7] Đối với hành vi của Nguyễn Hoàng A khi cho bị cáo C mượn xe mô tô không biết C dùng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

- Đối với hành vi của Nguyễn Thị M khi mua sợi dây chuyền vàng của Mai Hùng C không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

- Trong quá trình điều tra Nguyễn Trọng N1 không thừa nhận và không có chứng cứ N1 đã nhận của Mai Hùng C số tiền 1.500.000 đồng nên không thu hồi được là đúng theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo Mai Hùng C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Mai Hùng C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Hùng C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2017.

2. Về bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Ghi nhận bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết N đã nhận lại tài sản là 01 sợi dây chuyền, 01 mặt dây chuyền vàng 18 Kara và không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thiệt hại.

- Ghi nhận chị Nguyễn Thị M đã nhận số tiền 6.480.000 (sáu triệu, bốn trăm tám mươi nghìn) đồng và không yêu cầu bị cáo C phải trả thêm số tiền 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng.

- Ghi nhận anh Nguyễn Hoàng A đã nhận lại tài sản 01 xe mô tô biến số 70K1-9959, màu xanh đen, số máy HD1P50FMH0180170, số khung FT10200090388; 01 móc khóa bằng kim loại; 01 chìa khóa thân bằng kim loại dẹp, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 cờ lê 10-12 có chiều dài 12,5 cm; 01 con ốc kiểu bằng kim loại kích thước 1,5 cm x 1,5 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 10 cm x 04 cm; 01 mảnh nhựa màu đen kích thước 04 cm x 1,8 cm. Tất cả là phụ tùng của xe mô tô 70K1-9959 và không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép nhựa màu xám đen, 01 cây súng bằng nhựa màu đen (dạng súng ngắn) đã bị vỡ; 02 lò xo, của bị cáo Mai Hùng C.

- Trả lại cho bị cáo Mai Hùng C 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, số imel: 355352/04/470234/4 và tiền Việt Nam 140.000 (một trăm bốn mươi nghìn) đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2017).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Hùng C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Mai Hùng C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Tuyết N, anh Nguyễn Hoàng A, chị Nguyễn Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 90/2017/HS-ST ngày 19/12/2017 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:90/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về