Bản án 90/2017/HS-ST ngày 10/11/2017 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 90/2017/HS-ST NGÀY 10/11/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 10 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2017/TLST-HS ngày 02/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2017/QĐXXST-HS ngày 29/10/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc D, sinh năm 1988; đăng ký HKTT: 17/22/166 Đ, phường C, TP N; nơi cư trú: 19/10/323 G, phường T, TP Nh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Ngọc Q (đã chết) và bà Lê Thị Thanh V, sinh năm 1966; có vợ Trần Thị Kim Th, sinh năm 1988; Chưa có con; tiền án, tiền sự: không;

Bị can bị bắt tạm giam kể từ ngày 04/6/2017. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

1. Anh Nguyễn TA, sinh năm: 1995;

Trú tại: 11/13 V, phường V, Thành phố N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt tạiphiên tòa).

2. Anh Phùng Văn K, sinh năm: 1998;

Trú tại: Xóm 11, xã G1, huyện G, tỉnh Nam Định. (vắng mặt tại phiên tòa).

3. Anh Tô Văn B, sinh năm: 1985;

Trú tại: Số 31 Đ2, phường L, Thành phố N, tỉnh Nam Định. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào 14h ngày 26/5/2017, Trần Ngọc D sinh năm 1988 trú tại 19/10/323 G,phường T, Thành phố N điều khiển xe ô tô Huyndai Elentra màu trắng, có BKS:18A-06393 đến Trung tâm chăm sóc xe hơi B Y địa chỉ 62 Đ, phường L, Thành phố N. Tại đây, D yêu cầu 4 nhân viên: Nguyễn TA SN1995, trú tại: 11/13 V, P. V, TP. N, Phùng Văn K SN1998, trú tại: Xóm 11, G1, G, Nam Định, Doãn Đức T SN1999, trú tại: Xóm 10, G1, G, Nam Định, Phùng Văn D SN2001, trú tại: Xóm10, G1, G, Nam Định rửa xe và dọn nội thất. Sau đó, D đi uống cafe ở quánDiamond. Khoảng 15 phút sau, D quay lại thanh toán và kêu mất điện thoại để ở cốp cạnh ghế lái. D hỏi 4 nhân viên: “Điện thoại tao đâu?”. Thấy nhân viên bảo không biết, D chửi: “Thằng bố chúng mày, điện thoại của tao trong này mà lại mất, chúng mày gọi ông chủ về đây nói chuyện với tao” (BL94-97). Tiếp đó, D lại gần bàn uống nước, cầm 1 chiếc điếu cày dài khoảng 60-70cm, đường kính 4-5cm (BL 46, 100-103) bằng tay phải vụt theo chiều hướng từ trên xuống dưới vào người TA. TA dơ tay phải lên đỡ, trúng vào phần cẳng tay, chiếc điều cày văng ra ngoài đường và nứt vỡ (BL 106-109, 154-157). Sau đó, D dùng tay phải cầm mộtđiếu cày khác dơ lên cao vụt thẳng vào người K theo hướng từ trên xuống dưới, ngay lập tức K dơ tay lên đỡ thì bị điếu cày đập thẳng vào mu bàn tay phải của K, K sợ quá bỏ chạy sang đứng tại quán nước cạnh cửa hàng, sau đó D tiếp tục cầm điếu cày vung lên cao đập về phía người của T, T dùng dơ tay đỡ thì bị vụt trúng vào cánh tay trái, lúc này T và D đang đứng đối D nhau, T bỏ chạy, D đuổi theo chạy chặn mặt T tiếp tục dùng điếu cày dơ lên vụt vào cánh tay trái của T hai nhát nữa làm cánh tay trái của T sưng lên, bầm tím. D vứt điếu cày đi và tát vào mặt D một cái (BL 106-109,158-159,178-179,198-201). Thấy nhân viên gọi cho chủ cửa hàng và một người khác, D dùng điện thoại Iphone 6 (nguồn gốc là của khách cầm cố, D đã trả lại vào ngày 30/5) với sim khuyến mại gọi cho Lê Tuấn A(T2, SN1989, trú tại: 3/71 đường T, P. L1, TP. N) qua phần mềm messenger của Facebook, D kêu Tuấn A đến giải quyết (BL 125A-125B, 291-292). Khoảng 10 phút sau, có khoảng 10 đối tượng đi trên nhiều xe máy đến cửa hàng anh B, trong đó có Lê Tuấn A (T2), Đ1 (Đ T) (SN:1992, trú tại: 18/54 Đ, P. C, TP.N), Trần Đình H (H H, SN: 1994, trú tại: 6/68 Đường K, P. C, TP. N), Nguyễn Văn Th (Th Bò, SN: 1993, Trú tại: số 7 Đ, P. C, TP. N), Trần Thanh S (S Tính, SN: 1994, trú tại: 197/166 Đ, P. L, TP. Nam Định), Trần Ngọc Ch (Ch Quang SN: 1994, trú tại:17/22/166 Đ, P. C, TP. Nam Định), Giang Hồng T (Sơn L, SN 1987, trú tại 248 T, P. Ng, TP. N), Hoàng Anh D (D Cáo, SN1987, trú tại: 79A Đn, P. C, TP. Nh) và một số đối tượng khác chưa xác định được lai lịch. Đồng thời lúc này anh Tô Văn B (SN1985, trú tại: 31 Đ, P. L, TP. N, là chủ cửa hàng rửa xe) cũng đi ô tô về cửa hàng. Anh B xuống xe nói chuyện với các đối tượng trên và dùng điện thoại quay video. Thấy thế, Trần Ngọc D dùng tay đấm vào mặt anh B một phát, Đ1 đuổi và chửi anh B, TA(T2) dùng tay đấm vào mặt anh B một phát, Th Bò đuổi và túm cổ áo anh B; S (Long) dùng tay đấm liên tiếp hai phát vào người anh B; S “Tính”dùng chân đá vào chân anh B một phát. Sau đó anh B chạy vào trong xe ô tô và chốt cửa lại. Ngoài ra, Ch Quang và một số đối tượng khác đuổi theo nhân viên rửa xe TA. Khi TA chạy tới đường Ng thì ngã và bị các đối tượng trên dùng tay chân đánh vào người và mặt (BL 154-161).

Sau khi vụ án xảy ra, anh Tô Văn B, Nguyễn TA, Phùng Văn K, Doãn Đức T đã gửi đơn đến cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Nam Định đề nghị điều tra giải quyết và xử lý các đối tượng theo qui định. Ngay sau khi nhận được đơn cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành thu thập T liệu, chứng cứ để làm rõ vụ án. Và ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Trần Ngọc D. Tại cơ quan CSĐT D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Ngày 30/05/2017, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định đã trưng cầu Trung tâm Pháp Y tỉnh Nam Định giám định thương tích cho Nguyễn TA, Tô Văn B và Phùng Văn K, kết quả như sau:

- Bản giám định pháp y về thương tích số 70/17/TgT ngày 06/06/2017 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Nam Định kết luận Tô Văn B, (SN: 1985, Trú tại 31 Đ2, phường L, TP. Nam Định) xác định thương tích: Mặt trong môi dưới có vết rách da đã được khâu, kích thước 2,5cm x 0,2cm: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 2% (01 vết rách mặt trong môi dưới kích thước nhỏ). Cơ chế hình thành vết thương: Vật cứng tác động gây thương tích.

- Bản giám định pháp y về thương tích số 71/17/TgT ngày 02/06/2017 củaTrung tâm Pháp Y tỉnh Nam Định kết luận Nguyễn TA, (SN: 1995, Trú tại: 11/13V, TP. N) xác định thương tích gồm: Vùng lợi giữa răng 21 và 22 lõm, có vết rách kích thước 0,9 x 0,3cm. Răng 21 kích thước nhỏ lung lay độ II, răng 22 lung lay độ I; Tại mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái có vết rách da xây sát kích thước 2,5cm x0,3cm: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 3% (01 vết rách lợi và 01 vết rách da xây xát tại 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước nhỏ). Cơ chế hình thành vết thương: vật cứng tác động gây thương tích.

- Bản giám định pháp y về thương tích số 72/17/TgT ngày 02/06/2017 của Trung tâm Pháp Y tỉnh Nam Định kết luận: Phùng Văn K, (SN 1998, Trú tại: xóm 11, xã G1, huyện G, tỉnh Nam Định) xác định thương tích gãy 1/3 giữa xương bàn tay III tay phải không di lệch: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 7% (Gãy 01 xương bàn tay không di lệch). Cơ chế hình thành vết thương: Vật cứng tác động gây thương tích

Anh Doãn Đức T và anh Phùng Văn D cũng bị D dùng điếu cày và tay đánh vào tay và tát vào mặt, quá trình điều tra xác định không để lại thương tích trên cơ thể anh T và anh D, do vậy Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nam Định không tiến hành giám định thương tích đối với anh T và anh D.

Về vật chứng của vụ án: Sau khi sử dụng điếu cày để đánh các nhân viên ở trung tâm chăm sóc xe hơi B Y, D đã ném 2 điếu cày ra ngoài đường. Cơ quan điều tra đã truy tìm vật chứng nH không thu lại được (BL 84, 160-161).

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều có đề nghị bồi thường thiệt hại. Cụ thể: Tô Văn B đề nghị bồi thường toàn bộ tiền khám chữa bệnh là 2.000.000đ (hai triệu đồng) và thiệt hại 3 ngày cơ sở chăm sóc xe hơi không hoạt động được với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng); Nguyễn Tuấn A đề nghị bồi thường 2.000.000đ (hai triệu đồng); Phùng Văn K đề nghị bồi thường 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Sau khi kết thúc điều tra gia đình Trần Ngọc D mới đến thăm hỏi và bồi thường cho Nguyễn Tuấn A tổng số tiền là 2.000.000 đồng.

Quá trình điều tra vụ án Trần Ngọc D khai nhận được Đào Duy H (SN: 1976, trú tại: 42 Đ2, P. L, TP. Nam Định) nhờ để đánh dằn mặt anh B và chính H bảo D vào rửa xe tại trung tâm của anh B, giả vờ mất điện thoại để tạo cớ đánh anh B. Lý do là vì vợ chồng H và vợ chồng B có mâu thuẫn về việc vay mượn tiền và mượn xe ô tô từ trước (việc vay nợ và mượn ô tô giữa Đào Duy H và anh Tô Văn B là có thật, anh B khai nhận có cho H vay tiền và mượn một chiếc ô tô, Đào Duy H thừa nhận việc có vay nợ và mượn một chiếc ô tô của anh B) (BL 89-90, 106-109),  tuy nhiên Đào Duy H không thừa nhận việc nhờ D đi đánh dằn mặt anh B. Cơ quan CSĐT đã tiến hành đối chất giữa H và D, nhưng H không chấp hành, không tham gia buổi đối chất. Cho đến nay cơ quan CSĐT đã triệu tập nhiều lần đối với H nhưng không có mặt tại địa phương vì vậy không tổ chức đối chất được, ngoài lời khai của D về việc H nhờ đánh anh B thì không có T liệu nào khác chứng minh việc H nhờ D đánh anh B. Với T liệu điều tra thu thập được đến nay, Cơ quan CSĐT chưa đủ căn cứ khởi tố đối với H về tội “Cố ý gây thương tích” với vai trò chủ mưu xúi dục D gây án. Do vậy Cơ quan CSĐT tách phần T liệu của đối tượng H ra để tiếp tục thu thập T liệu, nếu đủ căn cứ sẽ khởi tố và điều tra xử lý sau.

Trong vụ án này còn có các đối tượng : Trần Ngọc Ch, Trần Thanh S, Đ1, Giang Hồng T, Lê TA, Nguyễn Văn T là những người có tham ra dùng chân tay đánh anh B khi vụ án xảy ra. Cụ thể: Trần Ngọc Ch (Ch Quang) dùng tay đấm vào lưng Nguyễn TA(nhân viên) và chửi bới anh B. Giang Hồng T (Sơn L) chửi bới anh B và dùng tay đấm vào lưng anh B 02 phát. Trần Thanh S (Sơn Tính) dùng chân đá anh B và chửi bới, đe dọa anh B. Lê Tuấn A(T2) dùng tay đánh vào mặt anh B, đe dọa anh B. Nguyễn Văn T (T Bò) vừa túm cổ áo vừa chửi anh B. Đ1 (Đ Tâm) có hành vi đuổi và chửi bới B. Tuy nhiên, các đối tượng trên đến khi D thực hiện xong hành vi dùng điếu cày đánh 4 nhân viên tại trung tâm rửa xe; các đối tượng trên không có sự bàn bạc thống nhất, sắp đặt việc đánh anh B cùng số nhân viên của anh B từ trước do vậy các đối tượng này không đồng phạm với D. Các đối tượng sử dụng tay chân đánh anh B theo quy định với tỉ lệ thương tích dưới 11% hành vi không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Các đối tượng trên có hành vi gây rối, tuy nhiên hành vi gây rối của các đối tượng trên không gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Tiêu muc 5.1 Mục 5 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP thì hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Vì thế, ngày 29/8/ 2017 Phòng CSHS - Công an tỉnh Nam Định đã ra quyết định xử phạt hành chính, thông báo cho chính quyền địa phương và gia đình biết để quản lý giáo dục.

Cáo trạng số 72/QĐ-KSĐT-P2 ngày 28/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Ngọc D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, c, i khoản 1 Điều 104 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Trần Ngọc D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Anh Tô Văn B là người bị hại trong vụ án có lời khai xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa đã luận tội đối với bị cáo sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị HĐXX: Áp dụng các điểm a, c, i khoản 1 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D từ 06 đến 09 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Ngọc D phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Tô Văn B số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích và số tiền thu nhập bị mất do cơ sở chăm sóc xe hơi không hoạt động được với tổng cộng số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng); bồi thường cho anh Phùng Văn K số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Khoảng 2h ngày 26/5/2017, tại trung tâm chăm sóc xe hơi B Y số 62 Đ, phường L, Thành phố N, Trần Ngọc D nại ra lý do bị mất điện thoại, sau đó có hành vi dùng điếu cày và tay chân gây thương tích cho các anh Tô Văn B, Nguyễn TA, Phùng Văn K. Hậu quả anh Tô Văn B tổn hại sức khỏe 2%, Nguyễn TA tổn hại sức khỏe 3%, Phùng Văn K tổn hại sức khỏe 7%.

[3] Xét thấy hành vi của bị cáo D đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, c, i khoản 1 Điều 104 BLHS, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố đối với bị cáo, là hoàn toàn có căn cứ. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, là một trong những khách thể được BLHS nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ; Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự cũng như khả năng nhận thức về những điều cấm của pháp luật. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm minh đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS. Tại phiên tòa anh Tô Văn B là người bị hại trong vụ án có lời khai xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; ngoài ra gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Tuấn Alà một trong số 03 người bị hại trong vụ án số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích là 2.000.000 đồng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS để áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy cần áp dụng các điểm a, c, i khoản 1 Điều 104; Điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 BLHS để xử phạt đối với bị cáo. Nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm gương cho kẻ khác.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo D phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Tô Văn B số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích là 2.000.000 đồng và thiệt hại 3 ngày cơ sở chăm sóc xe hơi không hoạt động được với số tiền 3.000.000 đồng tổng cộng là 5.000.000 đồng; bồi thường cho anh Phùng Văn K số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích là 2.000.000 đồng. Đối với số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích của anh Nguyễn Tuấn A là 2.000.000 đồng trong giai đoạn điều tra, gia đình bị cáo D đã tự nguyện bồi thường đầy đủ, do vậy không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

TuY bố bị cáo Trần Ngọc D phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng các điểm a, c, i khoản 1 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 điều  46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 04/6/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Trần Ngọc D phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Tô Văn B số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích và số tiền thu nhập bị mất do cơ sở chăm sóc xe hơi không hoạt động được với tổng cộng số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng); bồi thường cho anh Phùng Văn K số tiền chi phí cho việc điều trị thương tích là 2.000.000đ (hai triệu đồng).

3.  Căn  cứ  các  điều  98,  99  Bộ  luật  tố  tụng  hình  sự  và  Nghị  Quyết  số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Trần Ngọc D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Trần Ngọc D, anh Tô Văn B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án. Các anh Nguyễn TA, Phùng Văn K vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.


120
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về