Bản án 88/2020/HSPT ngày 24/02/2020 về tội gá bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 88/2020/HSPT NGÀY 24/02/2020 VỀ TỘI GÁ BẠC

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 605/HSPT ngày 26/12/2019 đối với bị cáo Trương Thị Y do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 194/2019/HSST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Trương Thị Y; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 119/2A Nguyễn Thị Đặng, tổ 14, khu phố 2, phường X, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông (không rõ) và bà Trương Thị K; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng là ông Nguyễn Tấn V và 02 con (con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam ngày: 07/5/2019 đến ngày 17/5/2019 có Quyết định trả tự do.

Bị cáo tại ngoại - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 45 phút, ngày 07 tháng 5 năm 2019, Công an Quận 12 phát hiện bắt quả tang Trương Thị Y đang tổ chức cho 08 đối tượng chia làm 02 chiếu đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng Ta bằng tiền, tại nhà số 119/2 Nguyễn Thị Đặng, tổ 14, khu phố 2, phường X, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh. T giữ số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là: 9.700.000 đồng. Chiếu bạc thứ 1 gồm: Trương Thị Y, Phan Thị Yến P, Huỳnh Thị T và Trần Ngọc D. Chiếu bạc thứ 2 gồm: Lê Thị L, Nguyễn Thị Thu N, Phạm Thị Kim H và Lê Thị Cẩm K.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận:

Bị cáo Trương Thị Y khai: Khoảng 12 giờ, ngày 07/5/2019, T, K và 02 người phụ nữ khác chưa rõ lai lịch đến nhà Y tại địa chỉ số 119/2 Nguyễn Thị Đặng, tổ 14, khu phố 2, phường X, Quận Z chơi, thì Y rủ tham gia đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng Ta bằng tiền. Tất cả cùng đồng ý. Y vào trong nhà lấy 01 bộ bài tứ sắc, 01 cái mền, 01 cái đĩa nhựa dùng làm chiếu bạc và công cụ đánh bạc rồi T mỗi người chơi 20.000 đồng tiền xâu, tổng cộng là 80.000 đồng tiền xâu. Sau đó, H, L, N, D và P đến nhà Y thì Y lấy thêm 01 bộ bài tứ sắc, 01 cái mền và 01 cái đĩa bằng nhựa để làm công cụ đánh bạc cho chiếu bạc thứ hai gồm Y và L tham gia đánh bạc cùng N và H.

Sau khi 02 người phụ nữ chưa rõ lai lịch tham gia đánh bạc cùng T và K nghỉ thì Y tham gia đánh bạc cùng T, P và D, còn K và L tham gia đánh bạc cùng N và H. Y sử dụng 1.500.000 đồng để tham gia đánh bạc cùng L, N và H thì thắng được 390.000 đồng và thu mỗi người 20.000 đồng tiền xâu, tổng cộng là 60.000 đồng. Sau đó, Y sử dụng 1.950.000 đồng tiếp tục tham gia đánh bạc cùng T, P và D. Khi bị bắt quả tang Y thua 600.000 đồng. Y thu được 140.000 đồng tiền xâu từ 02 chiếu, nhưng mua nước uống hết 60.000 đồng. Công an Quận 12 thu giữ của Y 1.430.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc trong đó 600.000 đồng Y để trên chiếu bạc và 80.000 đồng tiền xâu. Đến ngày bị bắt Y đã tổ chức cho các đối tượng đến đánh bạc được 20 ngày, thu lợi bất chính 2.800.000 đồng.

Bị cáo Phan Thị Yến P khai: Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 07/5/2019, P đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền với Y, T và P. P mang theo 3.300.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị phát hiện, P thắng được 400.000 đồng thì trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Công an Quận 12 thu giữ của P 1.580.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc trong đó 600.000 đồng P để trên chiếu bạc.

Huỳnh Thị T khai: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 07/5/2019, T đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền. T mang theo 2.200.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc. T tham gia đánh bạc với K và 02 người phụ nữ khác chưa rõ lai lịch thì thua 580.000 đồng, trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Sau đó, T sử dụng 1.000.000 đồng để tham gia đánh bạc với Y, D và P. Khi bị phát hiện, T thắng 200.000 đồng và trả tiền xâu cho Y 20.000 đồng. Công an Quận 12 thu giữ của T 1.180.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc trong đó có 600.000 đồng T đặt trên chiếu bạc.

Trần Ngọc D khai: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 07/5/2019, D đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền. D sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc cùng với Y, P và T. Khi bị phát hiện, D thắng 60.000 đồng, trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Công an Quận 12 thu giữ của D 740.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc trong đó có 600.000 đồng đang đặt trên chiếu bạc.

Lê Thị L khai: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 07/5/2019, L đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền. L mang theo 6.000.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. L đánh bạc với Y, P và N thì Ta 30.000 đồng và trả 20.000 đồng tiền xâu cho Y. Sau đó, L sử dụng 950.000 đồng tham gia đánh bạc cùng với N, H và K. Khi bị phát hiện, L thắng được 100.000 đồng và trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Công an Quận 12 thu giữ của L 1.030.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc trong đó 680.000 đồng đang đặt trên chiếu bạc.

Nguyễn Thị Thu N khai: Khoảng 14 giờ, ngày 07/5/2019, N đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền. N mang theo 3.700.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc với L, H và Y thì thắng được 220.000 đồng, trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Sau đó, N tiếp tục sử dụng 1.400.000 đồng tham gia đánh bạc với K, L và H. Khi bị phát hiện N thắng được 220.000 đồng, đưa cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Công an Quận 12 thu giữ của N 1.600.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc.

Phạm Thị Kim H khai: Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 07/5/2019, H đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền. H sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc với Y, L và N thì Ta 580.000 đồng, trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Sau đó, H tiếp tục sử dụng 1.000.000 đồng tham gia đánh bạc với K, L và N. Khi bị phát hiện, H Ta 140.000 đồng, trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Công an Quận 12 thu giữ của H 840.000 đồng tiền sử dụng vào việc đánh bạc trong đó 460.000 đồng đang đặt trên chiếu bạc.

Lê Thị Cẩm K khai: Khoảng 12 giờ, ngày 07/5/2019, K đến nhà của Y đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền. K mang theo 3.000.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 1.800.000 đồng để đánh bạc. K tham gia đánh bạc với T và 02 người phụ nữ khác chưa rõ lai lịch thì Ta 280.000 đồng, trả cho Y 20.000 đồng tiền xâu. Sau đó, K tiếp tục sử dụng 1.500.000 đồng tham gia đánh bạc cùng L, N, H. Khi bị phát hiện, K Ta 180.000 đồng, đưa 20.000 đồng tiền xâu cho Y. Công an Quận 12 thu giữ của K 1.300.000 đồng là tiền sử dụng vào việc đánh bạc trong đó có 400.000 đồng đặt trên chiếu bạc.

Hình thức đánh bạc là: “Đánh bài tứ sắc” 01 chiếu bạc có 04 người chơi làm 04 tụ, mỗi ván người chơi phải đặt 600.000 đồng (gọi là “chến”). Bộ bài tứ sắc gồm 112 lá được chia 20 lá bài cho mỗi tụ, còn lại để trên đĩa để người chơi kéo bài. Trong mỗi ván bài nếu người chơi có quân bài cùng màu và giống nhau thì bỏ ra, khi nào hết quân bài lẻ thì thắng “Thường”, nếu người chơi có 04 quân bài cùng màu và giống nhau thì thắng “Quan”. Trong quá trình chơi, người nào Ta hết 600.000 đồng đã đặt thì “Đứt chến”, cả 04 người chơi chuyển sang đánh ván mới. Mỗi người tham gia đánh bạc phải trả cho người tổ chức là Y 20.000 đồng tiền xâu/người/chến.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 194/2019/HSST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh:

Tuyên bố bị cáo Trương Thị Y phạm tội “Gá bạc”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Trương Thị Y 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Phan Thị Yến P 01 năm 6 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp 04 tháng 20 ngày tù của Bản án: 213/2017/HSST ngày 23/11/2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 10 tháng 20 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án. Bản án sơ thẩm còn giải quyết về vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/11/2019, bị cáo Trương Thị Y có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Y thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc một hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt hành vi phạm tội, hậu quả tội phạm mà bị cáo Trương Thị Y thực hiện đã nhận định: mức hình phạt 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Trương Thị Y là thỏa đáng, không nặng, đúng tội danh. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc một hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới để có thể xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Y mà giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Thị Y khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc xử bị cáo một hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận 12, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 12, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Trương Thị Y thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 15 giờ 45 phút, Trương Thị Y đã có hành vi sử dụng căn nhà do mình đang sử dụng, quản lý số: 119/2 Nguyễn Thị Đặng, tổ 14, khu phố 2, phường X, Quận Z để tổ chức cho 02 chiếu bạc cùng lúc đánh bạc bằng hình thức “Đánh bài tứ sắc” thắng thua bằng tiền và T tiền xâu với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trên 02 chiếu bạc là 9.700.000 đồng. Đối chiếu với quy định của pháp luật nên có căn cứ để xác định bị cáo Y đã phạm tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu là có căn cứ.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trương Thị Y kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Y thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc một hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù. Kháng cáo của bị cáo Y làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét thì bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét như: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, do hám lợi nhất thời mà phạm tội, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện nay đang nuôi mẹ già (sinh năm 1938) và có khả năng thi hành án.

Xét thấy bị cáo Trương Thị Y phạm tội có tính chất giản đơn, không có tính chất chuyên nghiệp, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, là lao động chính trong gia đình, trực tiếp nuôi mẹ già nên việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ tăng thêm gánh nặng cho xã hội cũng như gây khó khăn thêm cho gia đình bị cáo. Mức án 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Gá bạc” mà tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Y là có phần nghiêm khắc, chưa thể hiện tinh thần nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét không cần áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe cũng như bảo đảm khả năng thi hành hình phạt của bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Y, sửa bản án sơ thẩm.

Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Trương Thị Y không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Y; sửa bản án sơ thẩm số: 194/2019/HSST, ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Thị Y: 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Trương Thị Y không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


22
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về