Bản án 88/2018/HS-ST ngày 12/11/2018 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 88/2018/HS-ST NGÀY 12/11/2018 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2018/TLST- HS, ngày 16 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2018/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Lê Minh T, sinh năm 1981, tại tỉnh Long An.

Nơi cư trú: Ấp LT, xã HKT, huyện ĐH, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Th và bà Dương Thị Thanh V (chết); vợ thứ nhất tên Đỗ Thị B (đã ly hôn); vợ thứ hai tên Trần Thị Thanh B và có 04 người con (con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23-02-2018 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xử phạt số tiền 520.000.000 đồng về hành vi vận chuyển hàng cấm thuốc lá điếu nhập lậu (chưa nộp phạt); nhân thân: có tiền sự; bị bắt giữ từ ngày 02-6-2018 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975; cư trú tại: KT, phường MP, thành phốCL, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.

Chị Đinh Quang Ngọc B, sinh năm 1993; cư trú tại: Khu phố A, phường B, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ ngày 01-6-2018, tại khu vực ấp Bình Quới, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Công an tỉnh Tây Ninh kiểm tra xe ôtô biển số 51G-237.91 (biển số thật là 66A-044.73) do Lê Minh T điều khiển chở Đặng Văn H, phát hiện trên xe có chứa 7.800 bao thuốc lá điêu nhâp lâu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet , 1.800 bao nhãn hiệu Hero ). Công an tiến hành tạm giữ T cùng vật chứng để điều tra làm rõ.

Qua điều tra, thể hiện: Trước ngày bị bắt, T có quen biết với người tên K (không rõ địa chỉ) ở khu vực huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; K hỏi thuê T vận chuyển thuốc lá điếu nhập và T đồng ý. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 01/6/2018, K điện thoại thuê T chơ thuốc lá điếu nhập lậu từ cửa khẩu Tho Mo về tỉnh Bình Dương với giá 1.000.000 đồng/chuyến và hẹn T đến nhà thờ Hiệp Hòa thuộc thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để nhận xe ôtô biển số 51G-237.91. Sau đó, T điện thoại rủ Đặng Văn H (là bạn của T) đi Tây Ninh chơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi nhận xe ôtô biển số 51G-237.91, T chở H đi từ nhà thờ Hiệp Hòa đến khu vực chợ Tho Mo thì T kêu H xuống xe đứng đợi. T tiếp tục điều khiển xe đi theo 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đến địa điểm nhận thuốc lá, cách chợ Tho Mo khoảng 01 km. Tại đây, T nhận 7.800 bao thuốc lá điêu nhâp lâu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 1.800 bao nhãn hiệu Hero ) chất vao bên trong xe , trùm kín lại bằng tấm vải màu đen. T điều khiển xe ôtô quay lại đón H rồi chay đến khu vực ấp Bình Quới , xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, thì bị băt qua tang. Ngoài ra, T còn thừa nhận đã một lần vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho K với tiền công 1.000.000 đồng/chuyến.

Tại kết luận giám định số 09/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Tây Ninh kết luận: Thuốc là điếu nhập lậu 6.000 bao nhãn hiệu Jet có giá trị là 84.000.000 đồng; Thuốc là điếu nhập lậu 1.800 bao nhãn hiệu Hero có giá trị là 21.600.000 đồng.

Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố Lê Minh T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 06 đến 07 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo Lê Minh T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn L: Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên trong quá trình điều tra đã khai nhận xe ôtô biển số 66A-044.73 ông cho chị B thuê. Việc bị cáo dùng xe ôtô biển số 66A-044.73 vận chuyển thuốc lá nhập lậu ông không biết. Nay ông đã nhận lại xe ôtô biển số 66A-044.73 và không có yêu cầu khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đinh Quang Ngọc B: Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên trong quá trình điều tra đã khai nhận xe ôtô biển số 66A-044.73 do chị thuê của ông L. Sau đó, chị đưa cho anh M thuê lại. Việc bị cáo dùng xe ôtô biển số 66A-044.73 vận chuyển thuốc lá nhập lậu chị không biết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, xin Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Hành vi của bị cáo thể hiện như sau: Vào ngày 01-6-2018, tại khu vực ấp Bình Quới, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Lê Minh T vận chuyển 7.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm: 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 1.800 bao nhãn hiệu Hero) để hưởng tiền công 1.000.000 đồng thì bị bắt quả tang.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với trình bày của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp các tài liệu chứng cứ đã thu thập.

Do đó, đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương đặc biệt là khu vực biên giới. Do đó, cần

lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

 [3] Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Không có. Tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi vận chuyển thuốc lá nhập lậu nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, xét thấy nhân thân của bị cáo xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với ông Nguyễn Văn L là chủ sở hữu xe ôtô biển số 66A-044.73 cho bà Đinh Quang Ngọc B thuê, sau đó bà B cho người tên Tâm (không rõ địa chỉ) thuê lại nhưng không biết xe được sử dụng đê vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên không có cơ sở xư ly . Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng đã trả lại xe cho ông L.

Riêng Đặng Văn H không biết T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nên không đề cập xử lý . Đối với nhưng người tên K, Th, M hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được; Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.

Đối với các biển số 51G-214.47, 51G-426.87, 62A-091.76, 51G-237.91 thu giữ trên xe ôtô biển số 51G-237.91 mà T dùng để vận chuyển thuốc lá có dấu hiệu làm giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bàng đã tách ra để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

 [4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 6.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, loại 20 điếu/bao và 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero, loại 20 điếu/bao là thuốc là ngoại nhập lậu, không phải hàng giả nên Căn cứ vào Quyết định 20/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Lê Minh T xét thấy không liên quan cần trả lại bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1s, màu hồng, số IME 1: 863897038074956, số IMEI 2: 863897038074949, số sim 1: 0123.702.3234, số sim 2: 0163696.8156 xét thấy không liên quan đến vụ án cần tuyên trả lại bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số seri 357342088394015, số sim: 0933.465.803 thu của bị cáo xét thấy là công cụ liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

 [5] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Minh T 06 (sáu) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”; thời gian chấp hành án tính từ ngày 02-6-2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước: 6.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, loại 20 điếu/bao; 1.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số seri 357342088394015, số sim:0933.465.803.

- Tuyên trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1s, màu hồng, số IME 1: 863897038074956, số IMEI 2: 863897038074949, số sim 1: 0123.702.3234, số sim 2: 0163696.8156; 01 giấy phép lái xe số 790162245675 hạng B2, mang tên Lê Minh T; 01 giấy chứng minh nhân dân số 301038592 mang tên Lê Minh T; 01 giấy phép lái xe số 790103260413 hạng D, mang tên mang tên Lê Minh T.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


388
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 88/2018/HS-ST ngày 12/11/2018 về tội vận chuyển hàng cấm

Số hiệu:88/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bàng - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về