Bản án 88/2018/HNGĐ-ST ngày 22/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH

BẢN ÁN 88/2018/HNGĐ-ST NGÀY 22/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 22 tháng 11 năm 2018 tại hội trường Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số685/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2018/QĐXX-ST ngày 12 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trương Công T, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện S, thành phố HN (Vắng mặt tại phiên tòa – có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Tổ X, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Trương Công T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Anh T1 kết hôn vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố TH, khi kết hôn hai bên đều tự nguyện, không bị ai ép buộc gì. Quá trình chung sống, vợ chồng đã có 01 con chung là Trương Phú A, sinh ngày 12/5/2014.

Nguyên nhân xin ly hôn anh T khai: Hai vợ chồng không hợp nhau về lối sống và sinh hoạt hằng ngày nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn căng thẳng khiến cuộc sống vợ chồng không thể hòa hợp và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Hai vợ chồng tuy ở cùng nhà nhưng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017, đến tháng 01 năm 2018 thì mỗi người ở một nơi không ai còn quan tâm đến ai nữa. Anh T xác định tình trạng mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với chị T1 để giải phóng cho đôi bên, ổn định cuộc sống.

Khi ly hôn về con chung: Anh T nhất trí để chị T1 được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trương Phú A, sinh ngày 12/5/2014 và sẽ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi chị T1 yêu cầu.

Tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh T nhận nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Phía bị đơn chị Nguyễn Thị Anh T1 tại bản tự khai, tại phiên tòa trình bày: Chị và anh T kết hôn vào tháng 4 năm 2013, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố TH. Trong suốt quá trình chung sống do mâu thuẫn về lối sống và quan điểm sống nên hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh T có hành vi chửi bới, đánh đập, xúc phạm đến nhân phẩm của chị. Mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng nên hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017 đến nay. Chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị nhất trí ly hôn với anh T.

Khi ly hôn về con chung: Chị T1 có nguyện vọng được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trương Phú A, sinh ngày 12/5/2014 và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Tài sản chung, nợ chung: Chị T1 xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Sau khi vụ án được thụ lý anh T có bản tự khai tại Tòa án và đã có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt do anh đi làm ăn xa không thể tiếp tục đến Tòa án được. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được nên được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy ®Þnh tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TH.

Tại phiên tòa hôm nay anh Trương Công T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Anh Trương Công T và chị Nguyễn Thị Anh T1 kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố TH, trên cơ sở tự nguyện nên được pháp luật thừa nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân anh T xin ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống nên hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cuộc sống chung không hòa hợp, không hạnh phúc. Chị T1 cũng công nhận hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, anh T đã có lời lẽ chửi bới, đánh đập và xúc phạm đến nhân phẩm của chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và trên thực tế cuộc hôn nhân này đã không còn tồn tại từ tháng 11 năm 2017 khi hai vợ chồng sống ly thân và không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: Sau khi anh T có bản tự khai tại Tòa án có ý kiến để chị T1 được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trương Phú A, sinh ngày 12/5/2014 đã có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt do anh anh T vắng mặt. Chị  T cùng quan điểm được nuôi dưỡng con chung. Trên thực tế cháu Trương Phú A vẫn do chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vËy, Hội đồng xét xử thấy nên chấp nhận yêu cầu của các đương sự, giao con chung cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“ 1. Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của luật này, bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T1 không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị T1 đều xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Anh T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Trương Công T, cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Anh T1.

2. Về con chung: Giao con chung là Trương Phú A, sinh ngày 12/5/2014 cho chị Nguyễn Thị Anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung: Chị T1 không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Án phí: Anh T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006817 ngày 14/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH.

Chị T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 88/2018/HNGĐ-ST ngày 22/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:88/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về