Bản án 88/2018/HNGĐ-ST ngày 17/10/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 88/2018/HNGĐ-ST NGÀY 17/10/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2018/TLST - HNGĐ, ngày 16/7/2018 về tranh chấp ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 27/8/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1993 (xin vắng mặt). Nơi cư trú:ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1989 (vắng mặt không lý do). Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn ngày 16/7/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày: Chị và anh Phạm Văn C kết hôn do quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 21/02/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian ngắn thì ly thân do không hợp nhau, anh C cờ bạc, có nhiều mâu thuẫn xảy ra. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với anh Công. Về con chung không có. Về tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn anh Phạm Văn C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Chị Nguyễn Thị Thùy D có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh C.

 [2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Phạm Văn C, Hội đồng xét xử thấy rằng anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 21/02/2018. Do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn theo chị D trình bày thì vợ chồng sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, anh C cờ bạc, có nhiều mâu thuẫn xảy ra không thể hành gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của chị D và anh C chỉ tồn tại trong thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân, thời gian sống ly thân anh chị cũng không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh C đến Tòa án để tham gia hòa giải quan hệ hôn nhân với chị D, mục đích để anh chị hàn gắn nhưng anh C không đến Tòa án để tham gia hòa giải, điều đó chứng tỏ anh C có ý thức bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm với chị Dương. Do đó có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm vợ chồng chị D, anh C là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

 [3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị D trình bày không có, đối với anh C trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì về các vấn đề nêu trên nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định anh chị có con chung, tài sản chung và nợ chung không nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

 [4] Về nghĩa vụ nộp án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên xử:

 [1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thùy D. Chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn với anh Phạm Văn C.

[2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

 [3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thùy D trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

 [4] Về nghĩa vụ nộp án phí: Án phí ly hôn chị Nguyễn Thị Thùy D phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 000xxxx, ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.

 [5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 88/2018/HNGĐ-ST ngày 17/10/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:88/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về