Bản án 87/2020/HS-ST ngày 29/12/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC G

BẢN ÁN 87/2020/HS-ST NGÀY 29/12/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2020/TLST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2020/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Hà Văn X, sinh năm 1975; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và cư trú: Thôn Hương Mãn, xã Xuân Hương, huyện Lạng G, tỉnh Bắc G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Bố đẻ: Hà Văn Tu, sinh năm 1938; Mẹ đẻ: Hà Thị Hiền (đã chết); Gia đình bị cáo có bảy anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Vương Thị Hợp (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 48 ngày 23/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lạng G xử phạt Hà Văn X 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2012, chưa chấp hành tiền phạt bổ sung 5.000.000 đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm); Bản án hình sự sơ thẩm số 64 ngày 15/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên. Bản án hình sự phúc thẩm số 199 ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc G xử phạt Hà Văn X 4 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2012, X chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm); Tiền sự: không có; Nhân thân: Bản án số 21 ngày 22/12/1998 của Tòa án nhân dân huyện Lạng G xử phạt Hà Văn X 3 tháng tù về tội “Gây rối trật tự nơi công cộng”, 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 15 tháng tù nH cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 198, khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985; Bản án hình sự sơ thẩm số 12 ngày 04/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt Hà Văn X 42 tháng tù về tội “Phá hủy công trình P tiện quan trọng về an ninh quốc gia” theo quy định tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1999 (Chấp hành xong hình phạt tù tháng 9/2010); Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc G (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

- Anh Nguyễn Đức N, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đình Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc G.

- Chị Giáp Thị S, sinh năm 1981 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đình Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc G.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Tân Độ, xã Tân Liễu, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc G

*Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1957 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G.

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Chung, xã Liên S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc G.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1966 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đình Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc G.

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Chùa, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G

- Anh Phạm Văn H, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Tân Độ, xã Tân Liễu, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc G

- Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Phúc Lâm, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc G

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G.

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G.

- Anh Đỗ Như T, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Phúc Lâm, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc G

- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Chung, xã Liên S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc G

- Anh Hà Văn S, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Hương Mãn, xã Xuân Hương, huyện Lạng G, tỉnh Bắc G.

- Chị Hà Thị D, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Xóm Hạ, xã Xuân Hương, huyện Lạng G, tỉnh Bắc G.

- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1957 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu 1, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G

- Anh Thân Văn H, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Phúc Lâm, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc G

- Anh Nguyễn Đình N, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Phúc Lâm, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc G

- Chị Hà Thị M, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Hương Mãn, xã Xuân Hương, huyện Lạng G, tỉnh Bắc G.

- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Nơi cư trú: số nhà 250, đường Nguyễn Công Hãng, phường Trần Nguyên Hãn, T phố Bắc G.

- Cháu Nguyễn Đức M, sinh năm 2006 (vắng mặt) do chị Giáp Thị S, sinh năm 1981 đại diện theo pháp luật (có mặt).

Đều cư trú: Thôn Đình Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 21/5/2020 đến khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 22/5/2020 bị cáo Hà Văn X đã có hành vi trộm cắp 01 con bò lai sind, giống cái, màu lông vàng - nâu, đang mang thai, khoảng 10 năm tuổi, có khối lượng khoảng 300kg của của gia đình anh N, chị S. Sau đó giết mổ bò ở khu đồi phía sau bếp chùa Đền Am thôn Đình Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên. Trong quá trình đi trộm cắp bò khoảng thời gian 23 giờ 49 phút ngày 21/5/2020 X có sử dụng số điện thoại 0869884813 gọi vào số điện thoại 0356351190 của bà Nguyễn Thị C, hẹn bà C sáng ngày 22/5/2020 X sẽ mang thịt bò đến bán cho bà C, bà C đồng ý. Sau đó X bỏ lại Xương và nội tạng lấy toàn bộ thịt bò cho vào cho vào trong 3 bao tải D màu nâu vàng rồi sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 12K-3862 chở thịt bò đến địa phận huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G để bán.

Khoảng hơn 01 giờ ngày 22/5/2020, khi X đến khu vực thôn Chung, xã Liên S, huyện Tân Yên thì anh Nguyễn Văn H đi xe ô tô đi giao hàng nhìn thấy một người đàn ông mặc áo mưa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K1-3862 đằng sau chở 3 bao hàng điều khiển xe mô tô đi theo hướng huyện Hiệp Hòa, anh H đi theo thấy có biểu hiện nghi vấn nên anh H đã đến Công an huyện Hiệp Hòa trình báo.

Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 22/5/2020 khi X đến cổng chợ thị trấn Thắng thuộc địa phận thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc G phối hợp với Công an huyện Hiệp Hòa tuần tra, kiểm soát yêu cầu X dừng xe nhưng X không dừng lại mà tăng ga bỏ chạy vào đường thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa được 300m thì lái xe phi xuống ao nước rồi bỏ chạy ra cánh đồng thôn Dinh Hương. Trong lúc bỏ chạy X có gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị T bảo T mang quần áo lên thôn Dinh Hương cho X, quá trình bị Công an truy đuổi X đã ném chiếc điện thoại vào khu vực vườn của gia đình anh Nguyễn Văn H. Sau khi X gặp T, X thay quần áo rồi cùng T đi xe mô tô bỏ chạy, khi X và T đi xe mô tô được khoảng 20m thì bị tổ công tác đã yêu cầu dừng xe mô tô kiểm tra và thu giữ vật chứng sau: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3-510.48, kiểm tra bên trong cốp xe và thu giữ gồm: số tiền 2.400.000 đồng; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị T, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Thị T, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 98B3- 510.48 mang tên Nguyễn Thị T; 01 giấy phép lái xe mang tên Hà Văn X, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Hà Văn X.

Kiểm tra thu giữ tại khu vực kiểm soát: 01 áo mưa màu X đen bên ngực trái có chữ “Thủy S”; 01 quần mưa màu đen; 01 áo cộc tay có cổ trên ngực trái có chữ “Đazio”; 01 quần vải thô màu X rêu cỡ số 32, có chữ “Bossimingiq”; 01 khẩu trang vải kẻ caro; 01 đôi dép nhựa màu đen dưới đế dép có ghi chữ Asia; 01 đôi dép nhựa màu X dưới đế có ghi chữ cỡ 42 ghi chữ BM-610.

Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G đã thu giữ: Mầu móng tay 10 đầu ngón tay của Hà Văn X. Mầu tóc gồm cả chân tóc của Hà Văn X. Các mẫu được cho vào 2 phong thư niêm phong.

T hành trục vớt và thu giữ xe mô tô Biển kiểm soát 12K1-3862 (dãy số máy, số khung đã bị tẩy xóa) có giá chở hàng bằng sắt sau xe buộc 3 bao tải D màu nâu vàng bên trong có chứa mô và xương gia súc, có tổng trọng lượng là 144.5kg. Tổ công tác đã T hành thu giữ mẫu mô, xương đóng trong 03 túi nilon đánh số thứ tự 1,2,3 được niêm phong để giám định. Sau khi lấy mẫu giám định, Cơ quan điều tra đã giao lại phần mô và xương gia súc còn lại cho gia đình anh N, chị S. ngày 25/5/2020 anh Nguyễn Văn T là anh trai của N đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 bao tải D màu nâu vàng kích thước (0,64x1,15)cm; 01 bao tải D màu nâu vàng, đáy bao buộc túm lại, bao có kích thước (0,64 x 0,90)cm; 02 dây D màu vàng dài 1,05m.

Ngày 29/5/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn X. Đồng thời Cơ quan điều tra thu giữ của Hà Văn X: 01 chiếc áo phông cộc tay có nhiều kẻ sọc ngang màu trắng, X, xám, bên trong cổ áo có gắn mác ghi chữ “MANKETING”; 01 quần vải dài màu ghi xám, cạp quần phía sau có gắn mác ghi chữ MENS STYLE; 01 quần vải màu X tím than, loại quần dài.

Sáng ngày 22/5/2020, sau khi phát hiện mất bò gia đình anh N, chị S đã làm đơn trình báo Công an huyện Tân Yên. Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên đã T hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm tại khu vực đường đất dẫn vào khu đồi phía sau bếp chùa đền Am thuộc thôn Đình Chùa, xã Liên S cách nhà anh N khoảng 600m về phía Nam, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên phát hiện thu giữ:

+ 01 đoạn dây gồm các đoạn dây nhựa màu đỏ, dây chạc màu X, dây chạc màu trắng, dây dẫn điện màu đen được buộc nối với nhau, dài 4,7m. Ở vị trí sát góc tường phía Bắc khu bếp chùa đền Am được ký hiệu M1, một đầu dây được đút qua lỗ viên cay trên chân tường phía Bắc khu bếp.

+ 01 đoạn dây chạc màu vàng, dài 7,4m ở vị trí cạnh đoạn dây M1 được ký hiệu M2.

+ 01 đám dấu vết màu nâu đỏ nghi máu trên nền đường đất kích thước (1,4x1,3)m, tâm vết cách góc tường phía Bắc của khu bếp chùa đền Am 6,6m về phía Bắc.

+ Trên vệ đường bên phải đường đất (hướng Nam sang Bắc) cách tâm dấu vết nâu đỏ nghi máu 1,7m về phía Đông phát hiện 01 xác con bò đã bị mổ thịt còn lại một phần cơ thể gồm các bộ phận: đầu, phần da toàn thân có các vết rách bờ mép sắc gọn, phần xương sống, xương sườn, xương chậu, toàn bộ phủ tạng, 04 cẳng chân đã bị cắt rời phần bắp. Kiểm tra phần đầu không thấy dấu vết thương tích, vùng cổ hai bên có vết rách da bờ mép sắc gọn.

+ 01 đoạn dây chạc màu X bám dính bụi đất, dài 5,86m ở vị trí cách tâm vết màu đỏ nghi máu 2,8m về phía Bắc được ký hiệu M3.

Quá trình khám nghiệm Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên thu giữ mẫu thịt, xương sống, da, các đoạn dây được ký hiệu Ml, M2, M3.

Ngày  22/5/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên đã chuyển các vật chứng và tài liệu ban đầu đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G để điều tra, giải quyết theo quy định.

Ngày  22/5/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G đã T hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của bị cáo Hà Văn X thu giữ:

+ Tại gầm cầu thang tầng 1:13 bao tải màu vàng kích thước (110x70)cm; 03 sợi dây dù màu X có độ dài lần lượt 3 mét, 4 mét và 11 mét.

+ Thu giữ trên giường ngủ tầng 1:01 điện thoại di động nhãn hiệu Qmobie màu đen, đỏ, X có số IMEI1: 310814050296929, số IMEI2 310814080296923 bên trong có lắp sim điện thoại sim 1 số 0378278457, sim 2 số 0338603474.

+ Thu giữ tại khu cạnh bếp: 01 chiếc búa, cán dài khoảng 35 cm phần chuôi cán có vạch S màu đỏ tiết diện búa hình chữ nhật khoảng (5x10)cm, lòng trong hình vuông khoảng (25x5)cm S đen; 01 bình gas mini màu đỏ - trắng nhãn hiệu Max vina, phần trên đầu có gắn thiết bị bật dạng kéo màu X nhãn hiệu Namilux.

+ Thu giữ tại ngăn kéo bàn cạnh giường ngủ 01 quyển sổ tay bìa màu đen có ghi chữ Memory, kích thước khoảng (5x7)cm bên trong có ghi chữ và số.

+ 01 quyển sổ màu hồng, nhãn hiệu H T có kích thước 170x240cm đã qua sử dụng. Bên trong có nhiều tờ có chữ và số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, IMEI: 354198101141079, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng IMEI 358786/04/794319/8. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động, nhãn SKY màu trắng điện thoại cũ đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp tròn có ghi chữ OREO.

Ngày  22/5/2020, Cơ quan điều tra thu giữ của chị Nguyễn Thị T01 điện thoại di động nhãn hiệu itel, vỏ màu đen, không có ốp phía sau, máy lắp sim số 0325602891 ngày 22/5/2020 anh Phạm Văn H (chồng của chị T) giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ màu đỏ, lắp sim số 0364616475 và 0967905183 (là điện thoại của chị T).

Sau khi nhặt được chiếc điện thoại ở khu vực vườn nhà mình, ngày 22/5/2020, anh Nguyễn Văn H giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số IMEI: 354496090502974, bên trong lắp sim số 0869884813.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị C và chị Đỗ Thị H là người buôn bán thịt trâu và thịt bò, bà C khai đêm ngày 21/5/2020 X có gọi điện thoại cho bà C thỏa thuận sáng ngày 22/5/2020 X mang thịt bò đến bán cho bà C, ngoài ra bà C còn khai nhận bà C mua thịt bò của X nhiều lần trước đó, còn bà H khai nhận ngày 09/5/2020 X chở thịt bò đến nhà bà H bán cho bà H.

Ngày 22/5/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G kiểm tra thu giữ dữ liệu camera an ninh của gia đình bà Nguyễn Thị C từ ngày 15/5/2020 đến ngày 21/5/2020 được sao chép vào 01 USB và niêm phong theo quy định.

Ngày 23/5/2020, chị Đỗ Thị H giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 USB bên trong là dữ liệu điện tử lưu trong camera an ninh ngày 09/5/2020 của gia đình chị H.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã T hành cho bà C, anh Nguyễn Văn T (là con bà C) nhận biết giọng nói. Kết quả bà C, anh T nhận được giọng nói của X là người đã nhiều lần đã liên hệ và đến bán thịt bò cho bà C, bà C khẳng định chính giọng nói của X chính là giọng của người gọi điện thoại hẹn bà C sáng ngày 22/5/2020 mang thịt bò đến bán cho bà c.

Cơ quan điều tra đã cho anh Nguyễn Văn H, anh Đỗ Văn T (là chồng chị H) nhận dạng X. Kết quả nhận dạng anh H và anh T đều nhận dạng X chính là người đã mang thịt bò đến bán cho cho bà C nhiều lần vào tháng 4/2020 và chị H vào 09/5/2020.

Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G đã ra Lệnh thu giữ điện tín tra cứu nội dung cuộc gọi, tin nhắn đi và đến của số điện thoại 0869884813, 0356351190 và số điện thoại 0325602891. Kết quả tra cứu xác định được số điện thoại 0869884813 của X sử dụng ở cột sóng B240 địa chỉ xóm Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên gọi đến số máy điện thoại của bà C 0356351190 vào thời gian 23 giờ 49 phút và 23 giờ 54 phút ngày 21/5/2020. Trong thời gian từ 02 giờ 46 phút ngày 22/5/2020 đến 03 giờ 27 phút ngày 22/5/2020 số máy điện thoại 0869884813 của X và số điện thoại 0325602891 của chị T liên lạc gọi đi gọi đến nhiều lần.

Ngày  22/5/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G có Quyết định trung cầu giám định số 184 ngày 22/5/2020 trung cầu Viện pháp y quốc gia xác định mẫu mô thu giữ khi kiểm tra bắt giữ X có trùng với mẫu mô và xương thu trong quá trình khám nghiệm hiện trường không? Tại bản kết luận giám định pháp y về ADN số 180 ngày 28/5/2020 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Mẫu mô trong quá trình khám nghiệm hiện trường và mẫu mô “thu khi bắt giữ’’ đánh số 1,2,3 có cùng kiểu gen (ADN) ’’.

Ngày 25/5/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên có yêu cầu định giá số 35 đề nghị Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên định giá 01 con bò lai sind, giống cái, màu lông vàng - nâu, đang mang thai khoảng 10 năm tuổi, có khối lượng khoảng 300kg trị giá bao nhiêu tiền.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 36 ngày 26/5/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên kết luận:

“01 (một) con bò lai sind, giống cái, màu lồng vàng - nâu, đang mang thai, khoảng 10 năm tuổi, có khối lượng khoảng 300kg có giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn) ’’.

Ngày 16/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc G có Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra bị cáo Hà Văn X không thừa nhận hành vi trộm cắp bò của gia đình anh N, chị S và không thừa nhận đã bán thịt bò cho bà C và chị H như bà C, chị H đã khai mà X khai nhận: ngày 21/5/2020, X ở nhà đến khoảng 18 giờ ngày 21/5/2020, X từ nhà đi nhờ xe của một người không quen biết xuống bến xe khách Bắc G ngồi uống nước. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao 1,7m dáng người hơi gầy gặp X (X không quen biết người đàn ông này) và hỏi X có đi kiếm tiền không, X hỏi làm gì thì người đàn ông này bảo cứ biết thế và bảo khoảng 02 giờ ngày 22/5/2020 thì đến ngã tư Đình Trám, huyện Việt Yên, X đồng ý. Khoảng 01 giờ sáng ngày 22/5/2020, X bắt xe taxi của hãng Mlinh không nhớ số xe đi từ bến xe Bắc G ra ngã tư Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc G chờ khoảng 01 Tg thì người đàn ông thuê X chở hàng đến. Người đàn ông đó điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đen, biển kiểm soát 12K1-3862 chở theo sau 03 bao tải D màu nâu vàng và bảo X điều khiển xe mô tô chở theo 03 bao hàng đến tượng đài thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa sẽ có người đó đón và trả 2.000.000 đồng (X không biết bên trong bao tải đựng gì). Trước khi đi người đàn ông này giao cho X 01 áo mưa màu X đen bên ngực trái có chữ “Thủy S”; 01 quần mua màu đen, 01 mũ bảo hiểm, 01 điện thoại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số IMEI: 354496090502974 bên trong lắp sim số 0869884813 để X sử dụng. X đồng ý và điều khiển xe mô tô chở 03 bao hàng đi đến thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa. Khi đến khu vực tượng đài thị trấn Thắng, X thấy Công an do sợ nên điều khiển xe bỏ chạy được khoảng 400m thì mất lái và lao xuống ao nước thuộc địa phận thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, X vứt xe và hàng lại và tiếp tục bỏ chạy ra cánh đồng thuộc địa phận thôn Dinh Hương, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa. Sau đó X gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị T (bạn của X) đến đón và bảo X đi đánh bạc bị đuổi bảo chị T mang quần áo cho X. Chị T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH Moda màu đỏ, biển kiểm soát 98B3-51048 mang quần áo đến cho X thay. Khi chị T và X đi được khoảng 20 mét thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc G T hành kiểm tra lúc đó chiếc điện thoại của X bị văng ra, còn mũ bảo hiểm rơi từ lúc nào X không biết.

Cơ quan điều tra đã T hành cho chị T đối chất với X nhưng chị T từ chối đối chất với X, Cơ quan điều tra cho bà C đối chất với X, kết quả đối chất các bên vẫn giữ nguyên lời khai.

Quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 12K1- 3862 là chiếc xe của X sử dụng từ đầu tháng 5/2020, X thường gửi xe mô tô tại nhà gửi xe của Bệnh viện Sản nhi Bắc G.

Cơ quan điều tra đã xác minh tại tổng đài của hãng taxi Mlinh, kết quả xác minh trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 21/5/2020 đến 02 giờ ngày 22/5/2020 hãng xe taxi Mlinh không có xe nào đón và trả khách di chuyển từ khu vực cổng bến xe khách Bắc G đến khu Công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên.

Đối với người đàn ông mà X khai khoảng 40 tuổi, X gặp ở bến xe khách Bắc G thuê X chở 03 bao thịt bò, Cơ quan điều tra đã thành xác minh tại phường Ngô Quyền, Thành phố Bắc G không có đối tượng nào có đặc điểm như X đã khai làm nghề giết mổ, buôn bán động vật, gia súc có biểu hiện trộm cắp.

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 12/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Hà Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hà Văn X và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật dân sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn X từ 03 năm 6 tháng tù đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo X phải bồi thường cho anh N, chị S số tiền 17.000.000 đồng.

Về vật chứng, án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo X không khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng nêu. Bị cáo cho rằng mình bị oan, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan thi hành tố tụng, người thi hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan thi hành tố tụng, người thi hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại anh N, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T, Một số người làm chứng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Hà Văn X không thừa nhận hành vi trộm cắp bò của gia đình anh N, chị S vào đêm ngày 22/5/2020. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan điều tra đã chứng minh được chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K1-3862 là chiếc xe X sử dụng từ khoảng tháng 5 năm 2020, phù hợp Kết luận giám định pháp y về ADN số 180 ngày 28/5/2020 của Viện pháp y quốc gia xác định số vật chứng 144.5 kg thịt bò thu giữ trong 03 bao tải D trên xe mô tô biển kiểm soát 12K1-3862 do X điều khiển có cùng kiểu gen (ADN) với phần thịt, xương bò còn lại tại hiện trường ở thôn thôn Đình Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên. Còn chiếc điện thoại NOKIA bên trong lắp sim số 0869.884.813 là tài sản của X, chiếc điện thoại trên X đã sử dụng để liên lạc với chị Nguyễn Thị T nhiều lần từ đầu tháng 4/2020 phù hợp với lời khai của chị T khẳng định số điện thoại trên là của X dùng để liên lạc với chị và phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị C là người đã mua thịt bò của X nhiều lần trước đây xác định người dùng số điện thoại 0869.884.813 theo lịch hẹn thì sáng ngày 22/5/2020 sẽ mang thịt bò đến bán cho bà C nH bà C không thấy đến. Cơ quan điều tra đã cho bà C đối chất và nhận biết giọng nói của X, kết quả bà C nhận dạng được X là người thanh niên dùng số điện thoại 0869.884.813 đã 3-4 lần bán thịt bò cho bà C và cũng là người tối ngày 21/5/2020 đã dùng số điện thoại trên gọi cho bà C và nói có hàng nghĩa là có thịt bò mang đến bán.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã chứng minh được X có mặt tại địa bàn xã Liên S, huyện Tân Yên trong khoảng thời gian từ 23 giờ 49 phút đến khoảng 01 giờ ngày 22/5/2020 theo đó list điện thoại thu giữ đối với số 0869.884.813 thể hiện X liên lạc với bà C địa điểm cột sóng là B240 tại xóm Chùa, xã Liên S, huyện Tân Yên. Đồng thời phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Nguyễn Văn H xác định khoảng 01 giờ ngày 22/5/2020, anh H nhìn thấy một người đàn ông mặc áo mưa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K1-3862 đằng sau chở 3 bao hàng xuất hiện gần khu vực thôn Chung, xã Liên S, huyện Tân Yên điều khiển xe đi theo hướng huyện Hiệp Hòa thấy có biểu hiện nghi vấn nên anh H đã đến Công an huyện Hiệp Hòa trình báo. Bị cáo khai vào thời điểm trên bị cáo đi xe taxi M Linh từ cổng bến xe khách Bắc G đến khu vực Đình Trám, huyện Việt nhưng quá trình điều tra đã xác minh tại tổng đài của hàng taxi M Linh, kết quả xác minh trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 21/5/2020 đến 02 giờ ngày 22/5/2020 hãng taxi M Linh không có xe nào đón trả khách di chuyển từ khu vực cổng bến xe khách Bắc G đến khu vực Đình Trám, huyện Việt Yên. Mặt khác, quá trình khám xét Cơ quan điều tra đã thu giữ tại nhà X một số bao tải D có đặc điểm tương tự như 3 bao tải đựng thịt bò mà X chở và đã bị thu giữ và qua làm việc với những người thân của X cho biết gia đình X trước đây làm nghề thịt trâu bò, X từng đi thịt trâu bò thuê. Như vậy, có đủ căn cứ xác định X là người trộm cắp, giết thịt con bò của gia đình anh Nguyễn Đức N, chị Giáp Thị S sau đó mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện nên việc X trình bày X chở hàng thuê cho người nam thanh niên từ ngã tư Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc G đến huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc G là không có căn cứ.

Lời khai của bị cáo X tại phiên tòa hôm nay tuy bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Yên. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định và kết luận: Trong khoảng 22 giờ đêm ngày 21/5/2020 đến khoảng 01 giờ sáng ngày 22/5/2020, tại gia đình nhà anh N, chị S, bị cáo X có hành vi trộm cắp 01 con bò con bò lai sind, giống cái, màu lông vàng - nâu, đang mang thai, khoảng 10 năm tuổi, có khối lượng khoảng 300kg có giá 30.000.000 đồng của gia đình anh N, chị S.

Hội đồng xét xử thấy bị cáo X tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48 ngày 23/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạng G xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2012, chưa chấp hành tiền phạt bổ sung 5.000.000 đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và Bản án hình sự sơ thẩm số 64 ngày 15/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, Bản án hình sự phúc thẩm số 199 ngày 28/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc G xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành án phí hình sự sơ thẩm, án phí. Bị cáo đã bị kết án trong trường hợp chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản nên đây là tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm. Như vậy, với hành vi nêu trên của bị cáo X đã đủ yếu tố cấu T tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự anh ninh tại địa phương. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo X không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, và không thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo đã bị kết án trong trường hợp chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản nên đây là tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo X là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về loại tội phạm này nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng lại tiếp tục con đường phạm tội, thể hiện bị cáo là con người khó giáo dục nên cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định phạt bổ sung bằng tiền, xét thấy bị cáo X không có nghề nghiệp ổn định, theo biên bản xác minh tại địa phương không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo X.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa chị Giáp Thị S trình bày gia đình chị đã nhận lại số lượng 144.5 kg thịt bò và bán được 13.000.000 đồng. Theo kết quả định giá con bò có giá 30.000.000 đồng. Nay chị yêu cầu bị cáo X phải bồi thường cho gia đình chị số tiền 17.000.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo X phải bồi thường cho gia đình chị S số tiền nêu trên là có căn cứ.

[8] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 áo mua màu X đen bên ngực trái có chữ “Thủy S”; 01 quần mua màu đen; 01 áo cộc tay có cổ trên ngực trái có chữ “Đazio”; 01 quần vải thô màu X rêu cỡ số 32, có chữ “Bossimingiq”; 01 khẩu trang vải kẻ caro; 01 đôi dép nhựa màu đen dưới đế dép có ghi chữ Asia; 01 đôi dép nhựa màu X dưới đế có ghi chữ cỡ 42, ghi BM-610 là trang phục X sử dụng từ tối ngày 21/5/2020 và sáng ngày 22/5/2020 khi thực hiện hành vi trộm cắp và mang tài sản đi tiêu thụ. Tại phiên tòa bị cáo khai là các vật dụng cá nhân của bị cáo, không có giá trị, bị cáo không đề nghị xin lại, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 3 bao tải D màu vàng và 02 đoạn dây D màu vàng; 01 đoạn dây gồm các đoạn dây nhựa màu đỏ, dây chạc màu X, dây chạc màu trắng, dây dẫn điện màu đen được buộc nối với nhau dài khoảng 4,7m; 01 đoạn dây chạc màu vàng dài 7,4m; 01 đoạn dây chạc màu X bám dính bụi đất dài 5,86m. Đây là các vật chứng thu giữ khi tuần tra kiểm soát bắt giữ X sử dụng để đựng thịt bò sau khi trộm cắp giết thịt và vật chứng do một số người làm chứng giao nộp không có giá trị sử dụng. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số IMEI: 354496090502974 bên trong lắp sim số 0869884813 là điện thoại của X dùng để liên lạc trong việc tiêu thụ tài sản trộm cắp. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 xe mô tô kiểm kiểm soát 12K1-3862 X sử dụng đi trộm cắp tài sản quá trình điều tra xác định X đã sử dụng chiếc xe này từ khoảng tháng 5 năm 2020. Kết quả giám định xác định chiếc xe mô tô trên có số máy nguyên thủy là HC12E-1029054, số khung bị tẩy xóa không xác định được số nguyên thủy. Cơ quan điều tra thi hành cứu xác định chiếc xe có số máy HC12E-1029054 chủ xe là Nguyễn Thị P M, sinh năm 1981 trú tại P Quang T, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả tra cứu biển số xe 12K1-3862 mang tên chủ xe là Hoàng Văn Hạnh, sinh năm 1972 trú tại thôn Đồng Trang, xã Hòa S, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng S. Cơ quan điều tra làm việc với Nguyễn Thị P M và Hoàng Văn Hạnh xác định chiếc xe và biển kiểm soát trên đã bán cách đây nhiều năm. Do chưa làm rõ được nguồn gốc chiếc xe nên Cơ quan điều tra tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý đúng theo quy định. Nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.

- Đối với 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thu nhân dân đều mang tên Hà Văn X là giấy tờ của X; 01 chiếc áo phông cộc tay có nhiều kẻ sọc ngang màu trắng, X, xám, bên trong cổ áo có gắn mác ghi chữ “MANKETING”; 01 quần vải dài màu ghi xám, cạp quần phía sau có gắn mác ghi chữ MENS STYLE; 01 quần vải màu X tín than, loại quần dài; 13 bao tải màu vàng kích thước (110x70)cm; 03 sợi dây dù màu X có độ dài lần lượt 3 mét, 4 mét và 11 mét; 01 chiếc búa, cán dài khoảng 35 cm phần chuôi cán có vạch S màu đỏ tiết diện búa hình chữ nhật khoảng (5x10)cm, lòng trong hình vuông khoảng (25x5)cm S đen; 01 bình gas mini màu đỏ - trắng nhãn hiệu Max vina phần trên đầu có gắn thiết bị bật dạng kéo màu X nhãn hiệu Namilux; 01 quyển sổ tay bìa màu đen có ghi chữ Memory kích thước khoảng (5x7)cm bên trong có ghi chữ và số; 01 quyển sổ màu hồng, nhãn hiệu H T có kích thước 170x240cm đã qua sử dụng, bên trong có nhiều tờ có chữ và số. Đây là các tài sản cá nhân của X không sử dụng vào việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo X xin lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Qmobie màu đen, đỏ, X có số IMEI1: 310814050296929, số IMEI2 310814080296923 bên trong có lắp sim điện thoại sim 1 0378278457, sim số 2 0338603474; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, IMEI: 354198101141079, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng IMEI 358786/04/794319/8 điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động, nhãn SKY màu trắng điện thoại cũ đã qua sử dụng là tài sản của Hà Văn X không sử dụng vào việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo X xin lại Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Cơ quan điều tra đã T hành truy tìm vật chứng 01 mũ bảo hiểm, 01 con dao dạng dao nhọn dùng để thịt gia súc liên quan đến vụ trộm cắp tài sản tại khu vực X lao xe xuống ao bỏ trốn nH không thu giữ được gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

* Đối với chị Nguyễn Thị T là người X gọi đến chở X khi chạy. Tuy nhiên, chị T không biết việc X trộm cắp tài sản bị phát hiện bỏ chạy nên không vi phạm pháp luật. Đối với số tiền 2.400.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 98B3-510.48; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị T; 01 chứng minh thu nhân dân mang tên Nguyễn Thị T; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 98B3-510.48 mang tên Nguyễn Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu itel, vỏ màu đen, không có ốp phía sau, máy lắp sim số 0325602891; 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo vỏ màu đỏ lắp sim số 0364616475 và 0967905183 quá trình điều tra xác định đây là các tài sản của chị T không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 28/6/2020, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bắc G đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T. Chị T không có đề nghị gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Đối với bà Nguyễn Thị C là người thỏa thuận sáng ngày 22/5/2020 mua số thịt bò của X tuy nhiên không biết việc X trộm cắp bò sau đó thịt mang bán cho mình nên không vi phạm pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

Điểm a, C khoản 2 Điều 106; Điều 135; Khoản 1 Điều 292; Điều 293; Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 của Bộ luật dân sự;

Điều 21; điểm a, C khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Xử:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn X 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2020.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hà Văn X phải bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Đức N, chị Giáp Thị S số tiền 17.000.000 đồng (Mười bẩy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

[4] Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo mưa màu X đen bên ngực trái có chữ “Thủy S”; 01 quần mưa màu đen; 01 áo cộc tay có cổ trên ngực trái có chữ “Đazio”; 01 quần vải thô màu X rêu cỡ số 32 có chữ “Bossimingiq,,; 01 khẩu trang vải kẻ caro; 01 đôi dép nhựa màu đen dưới đế dép có ghi chữ Asia; 01 đôi dép nhựa màu X dưới đế có ghi chữ cỡ 42 ghi BM-610; 3 bao tải D màu vàng và 02 đoạn dây D màu vàng; 01 đoạn dây gồm các đoạn dây nhựa màu đỏ, dây chạc màu X, dây chạc màu trắng, dây dẫn điện màu đen được buộc nối với nhau dài khoảng 4,7m; 01 đoạn dây chạc màu vàng dài 7,4m; 01 đoạn dây chạc màu X bám dính bụi đất dài 5,86m.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số IMEI: 354496090502974 bên trong lắp sim số 0869884813.

- Trả lại cho bị cáo X: 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư nhân dân đều mang tên Hà Văn X; 01 chiếc áo phông cộc tay có nhiều kẻ sọc ngang màu trắng, X, xám, bên trong cổ áo có gắn mác ghi chữ “MANKETING”; 01 quần vải dài màu ghi xám, cạp quần phía sau có gắn mác ghi chữ MENS STYLE; 01 quần vải màu X tín than, loại quần dài; 13 bao tải màu vàng kích thước (110x70)cm; 03 sợi dây dù màu X có độ dài lần lượt 3 mét, 4 mét và 11 mét; 01 chiếc búa, cán dài khoảng 35 cm phần chuôi cán có vạch S màu đỏ tiết diện búa hình chữ nhật khoảng (5x10)cm, lòng trong hình vuông khoảng (25x5)cm S đen; 01 bình gas mini màu đỏ - trắng nhãn hiệu Max vina phần trên đầu có gắn thiết bị bật dạng kéo màu X nhãn hiệu Namilux; 01 quyển sổ tay bìa màu đen có ghi chữ Memory kích thước khoảng (5x7)cm bên trong có ghi chữ và số; 01 quyển sổ màu hồng, nhãn hiệu H T có kích thước 170x240cm đã qua sử dụng, bên trong có nhiều tờ có chữ và số.

- Trả lại cho bị cáo X: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Qmobie màu đen, đỏ, X có số IMEI1: 310814050296929, số IMEI2 310814080296923 bên trong có lắp sim điện thoại sim 1 số 0378278457, sim 2 số 0338603474; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có số IMEI: 354198101141079, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng có số IMEI 358786/04/794319/8 điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SKY màu trắng điện thoại cũ đã qua sử dụng. NH tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 850.000 đồng (Tám trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; Bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 87/2020/HS-ST ngày 29/12/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:87/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về