Bản án 87/2020/HS-ST ngày 27/11/2020 về tội vi phạm quy định khai thác bảo vệ rừng và lâm sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO - TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 87/2020/HS-ST NGÀY 27/11/2020 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN

Ngày 27 tháng 11 năm 2020 tại Phòng xử án -Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức Tuấn H, sinh năm 1980 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký HKTT: Số 2/24 Phùng H, phường Thuận T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay (tạm trú): 103/3 Y Ni K, buôn Păn L, phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lễ T; có vợ: Nguyễn Thị Phương Tr và có 01 người con sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự vào ngày 27 tháng 3 năm 2019 bị cáo bị Chi cục kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.

Nhân thân: Ngày 15 tháng 6 năm 1998 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, tại Bản án số: 43/1998/HS-ST và đã chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15 tháng 6 năm 2020 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1991.

Trú tại: 46 Phan Đăng L, phường Tân A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Hồ Sỹ D, sinh năm 1982. Trú tại: TDP 10, thị trấn E, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Ông Bùi Quang T, sinh năm 1984. Trú tại: Thôn 3, xã Ea H, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972. Trú tại: Thôn Thái X, xã Mai Th, huyện Lệ T, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 27 tháng 3 năm 2020, H nhận được điện thoại của một người đàn ông không xác định nhân thân thuê H vận chuyển 04 gốc gỗ về thành phố Buôn Ma Thuột với giá 2.000.000 đồng thì H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe ô tô tải mang biển số 14C-000.38 (xe H thuê của Nguyễn Xuân Tr) đi đến khu vực Km92 thuộc thôn 2, xã Ea Ral, huyện Ea H’Leo gặp Trịnh Minh L và Nguyễn Văn H cùng một số người không xác định nhân thân bốc 04 gốc gỗ loại Cà te và gỗ H lên xe ô tô. Sau khi bốc gỗ xong thì H điều khiển xe ô tô cùng 02 người đàn ông không rõ nhân thân đi về hướng Buôn Ma Thuột. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi xe ô tô của H đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố 10, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk thì bị Hạt kiểm lâm huyện Ea H’Leo dừng xe kiểm tra phát hiện trên xe có chở 01 gốc gỗ Cà te, nhóm IIA, khối lượng 0,53 m3 và 03 gốc gỗ Giáng Hương, nhóm IIA, khối lượng 0,184 m3. Lúc này, Hạt kiểm lâm yêu cầu H cung cấp hồ sơ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ trên xe ô tô nhưng H không cung cấp được. Trong lúc, cán bộ Hạt kiểm lâm kiểm tra xe ô tô thì 02 người thanh niên đi cùng đã bỏ đi nên không xác định được. Khi đó, cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Ea H’Leo đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đức Tuấn H vận chuyển lâm sản trái phép để xử lý theo quy định.

Quá trình xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ thể hiện trước đó Nguyễn Đức Tuấn H đã bị Chi cục kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 259/QĐ-XPVPHC ngày 27 tháng 3 năm 2019. Đến ngày 01 tháng 4 năm 2019 H đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi thu thập tài liệu, chứng cứ Hạt kiểm Lâm huyện Ea H’Leo đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ea H’Leo để tiếp tục điều tra xử lý Nguyễn Đức Tuấn H theo quy định.

Tại Kết luận giám định ngày 11 tháng 5 năm 2020 của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Về khối lượng gỗ: Số lượng 04 gốc gỗ, khối lượng 714 kg = 0,714 m3 (trong đó gỗ Cà te: 01 gốc = 530 kg = 0.530m3; gốc gỗ hương: 03 gốc =184 kg= 0.184 m3); về chủng loại: Nhóm gỗ IIA.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk.

Tại bản Cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Đức Tuấn H về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Tuấn H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Tuấn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án đã tuyên.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Đối với người đàn ông thuê Nguyễn Đức Tuấn H vận chuyển số lâm sản trên không xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ của người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Nguyễn Đức Tuấn H đã có 01 tiền sự vào ngày 27 tháng 3 năm 2019 bị Chi cục kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép và đến ngày 01 tháng 4 năm 2019 Nguyễn Đức Tuấn H đã chấp hành nộp tiền phạt xong. Tuy nhiên, vào lúc 15 giờ 20 phút, ngày 27 tháng 3 năm 2020 tại tổ dân phố 10, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Nguyễn Đức Tuấn H đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải mang biển số 14C- 000.38 chở 01 gốc gỗ Cà te, nhóm IIA, khối lượng 0,53 m3 và 03 gốc gỗ Giáng hương, nhóm IIA, khối lượng 0,184 m3, nhưng không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ, nên bị Hạt kiểm lâm huyện Ea H’Leo phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính.

Tại Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

……………………….

m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm 1 khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.” Mặc dù, bị cáo chỉ vận chuyển trái phép 0,714 mét khối (m3) gốc gỗ Cà te và Giáng hương thuộc Danh mục nhóm IIA dưới mức quy định. Tuy nhiên, trước đó bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, nên đã đủ căn cứ để nhận định hành vi vận chuyển lâm sản trái phép của bị cáo là dấu hiệu định tội về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, theo điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực để nhận biết hành vi vận chuyển gỗ trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý, khai thác, bảo vệ rừng của nhà nước, đồng thời tiếp tay làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái nói chung, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Vì vậy, cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không [4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nơi cư trú rõ ràng và có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông thuê bị cáo vận chuyển số lâm sản trên không xác định được nhân thân lai lịch và địa chỉ của người đàn ông này, nên không có căn cứ để xử lý.

[5]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ea H’Leo đã thu giữ 01 gốc gỗ Cà te, nhóm IIA, khối lượng 0,53 m3; 03 gốc gỗ Giáng hương, nhóm IIA, khối lượng 0,184 m3; 01 điện thoại di động hiệu Wiko sunny2 plus, màu bạc, imei: 352572097895769; 01 chiếc xe ô tô hiệu JAC, màu bạc, biển số 14C- 000.38. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô biển số 14C-000.38 là tài sản của ông Nguyễn Xuân Tr việc bị cáo sử dụng chiếc xe chở gỗ trái phép thì ông Tr không biết. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra giao trả chiếc xe ô tô nói trên cho ông Tr là chủ sở hữu.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Wiko sunny2 plus, màu bạc, imei:

352572097895769 đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và 01 gốc gỗ Cà te, nhóm IIA, khối lượng 0,53 m3; 03 gốc gỗ Giáng hương, nhóm IIA, khối lượng 0,184 m3 là vật chứng vụ án, nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức Tuấn H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Tuấn H 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả chiếc xe ô tô biển số 14C-000.38 cho ông Nguyễn Xuân Tr là chủ sở hữu. Đối với 01 gốc gỗ Cà te, nhóm IIA, khối lượng 0,53 m3; 03 gốc gỗ Giáng hương, nhóm IIA, khối lượng 0,184 m3 là vật chứng vụ án và 01 điện thoại di động hiệu Wiko sunny2 plus, màu bạc, imei: 352572097895769 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. (Đặc điểm các vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án).

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Đức Tuấn H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 87/2020/HS-ST ngày 27/11/2020 về tội vi phạm quy định khai thác bảo vệ rừng và lâm sản

Số hiệu:87/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea H'leo - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về