Bản án 86/2019/HNGĐ-ST ngày 22/10/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 86/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/7/2019 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé Q, sinh năm 1990 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp AP, xã AH, huyện B, tỉnh Bến Tre

- Bị đơn: Anh Mai Thành B, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp AP, xã AH, huyện B, tỉnh Bến Tre

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/7/2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé Q trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Mai Thành B tự nguyện kết hôn năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh An, huyện Ba Tri. Sau khi kết hôn, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2018 thì cuộc sống không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Chị đã từng nộp đơn xin ly hôn đến Tòa án 01 lần, sau đó rút đơn vì muốn cho cả hai cơ hội hàn gắn nhưng không được. Chị và anh B đã sống ly thân từ hơn 04 tháng nay và đã không có liên lạc. Nay nhận thấy không còn khả năng hàn gắn nên chị Q yêu cầu ly hôn với anh B.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có

* Quá trình tố tụng, anh B vắng mặt nên không có lời khai.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên HĐXX thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX chấp nhận cho chị Q ly hôn với anh B. Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa bị đơn anh Mai Thành B vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé Q và anh Mai Thành B kết hôn năm 2018 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2018. Do đó, hôn nhân của chị Q và anh B là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, chị Q cho rằng mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn hạnh phúc do có nhiều quan điểm bất đồng nên yêu cầu ly hôn với anh B. Chị Q đã từng nộp đơn yêu cầu ly hôn, sau đó rút đơn do muốn hàn gắn nhưng cả hai vẫn không thể giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bên cạnh đó, anh B biết Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án nhưng vẫn không đến Tòa cho thấy anh B không có thiện chí hàn gắn cùng chị Q. Kết quả xác minh tại địa phương dù không thể hiện rõ mâu thuẫn nhưng cũng cho thấy giữa chị Q và anh B có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân. Điều này phù hợp với lời trình bày của ông Mai Bá N (cha anh B). Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Q và anh B đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị Q là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Q và anh B không có con chung.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét

[5] Về nợ chung: chị Q cho rằng không có nợ chung nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Bé Q phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bé Q ly hôn với anh Mai Thành B.

2. Con chung: Không có

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé Q phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào theo biên lai thu tiền số 0004968 ngày 08/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 86/2019/HNGĐ-ST ngày 22/10/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:86/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ba Tri - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về